- Address: Lot No. 20, Zone G, D1 Street, An Ha Industrial Park, Tan Vinh Loc Commune, Ho Chi Minh City
- Phone: (84-28) 668.36156 / 668.36158
- Hotline: 1800.9435
- Fax: (84-28) 3620.4694
- Email: vibo@vibo.com.vn
- Website https://vibo.com.vn/

TÌNH HÌNH CHUNG
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp & MT, đàn lợn cả nước dần hồi phục sau dịch bệnh, tổng đàn lợn cả nước ước tính đến cuối tháng 1/2025 tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm tiếp tục phát triển nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh, tỏng số gia cầm cả nước ước tính tăng 5,2%. Chăn nuôi lợn đang dần phục hồi sau ảnh hưởng của dịch bệnh, chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định, đáp ứng nhu cầu thị trường và phục vụ tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán 2026. Tình hình chăn nuôi tháng 1/2026 cụ thể:
- Chăn nuôi lợn: Đàn lợn cả nước dần phục hồi sau dịch bệnh, nhiều doanh nghiệp và trang trại chăn nuôi quy mô lớn tiếp tục duy trì sản xuất ổn định, đầu tư mở rộng sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán 2026.
Tính đến cuối tháng 01/2026, tổng đàn lợn cả nước ước tính tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước và tăng 0,5% so với thời điểm cuối tháng 12/2025. Một số địa phương nhờ áp dụng hiệu quả các biện pháp an toàn sinh học nên đàn lợn tăng cao so với cùng kỳ: Gia Lai tăng 13,8%; Tây Ninh tăng 19,9%.
- Chăn nuôi gia cầm: Đàn gia cầm tiếp tục phát triển nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh và nhu cầu tiêu dùng tăng cao. Các cơ sở chăn nuôi chuẩn bị đủ nguồn cung thịt và trứng gia cầm phục vụ cho tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán. Tổng số gia cầm của cả nước thời điểm cuối tháng 01/2026 ước tính tăng 5,2% so với cùng thời điểm năm 2025.
- Chăn nuôi trâu, bò: Chăn nuôi trâu, bò vẫn gặp khó khăn do hiệu quả kinh tế không cao, giá bán thiếu ổn định, trong khi chi phí chăn nuôi có xu hướng tăng, người dân hạn chế đầu tư tái đàn. Tổng số trâu của cả nước thời điểm cuối tháng 01/2026 ước tính giảm 4,5% so với cùng kỳ năm trước; tổng số bò giảm 1,7%.
- Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 1/2026 ước đạt 47,5 triệu USD, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 15,1 triệu USD, tăng gấp 3 lần; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 15,9 triệu USD, tăng 29,6%.
- Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 1/2026 ước đạt 423 triệu USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 150 triệu USD, tăng 44,3%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 190,7 triệu USD, tăng 22,2%.
Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 1/2026 ước đạt 390 triệu USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính năm 2025 là các thị trường Áchentina, Hoa Kỳ và Braxin với thị phần lần lượt là 36,6%, 18,7% và 9,7%.
Về thú y: Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, tình hình dịch bệnh nguy hiểm trên động vật trên cạn cơ bản được kiểm soát, các ổ dịch xảy ra chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ tại các hộ chăn nuôi không đảm bảo điều kiện an toàn sinh học và chưa được tiêm phòng vắc xin đầy đủ, cụ thể như sau:
+ Bệnh Cúm gia cầm (GCC): Cả nước chỉ ghi nhận 03 ổ dịch tại tỉnh Ninh Bình với 875 con bị tiêu hủy;
+ Bệnh Dại động vật: Cả nước ghi nhận 10 ca bệnh tại 05 tỉnh, thành phố. Số ổ dịch và số động vật tiêu hủy đều giảm so với cùng kỳ năm trước;
+ Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Cả nước xảy ra 131 ổ dịch tại 22 tỉnh, thành phố. Các địa phương thiệt hại nặng nhất bao gồm Ninh Bình (2.018 con) và Lâm Đồng (1.076 con);
+ Bệnh Viêm da nổi cục: Cả nước phát sinh 02 ổ dịch tại 02 tỉnh với 02 con trâu, bò bị tiêu hủy. Hiện cả nước vẫn còn 01 ổ dịch chưa qua 21 ngày;
+ Các bệnh khác như Bệnh Lở mồm long móng và Tai xanh không ghi nhận ổ dịch mới trong tháng 01/2026.
THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI
Giá thu mua lợn hơi trong nước biến động tăng mạnh trong tháng 01/2026. So với tháng 12/2025, giá lợn hơi tại miền Bắc tăng 10.500 đồng/kg lên 78.000 - 81.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Trung - Tây Nguyên tăng 10.900 đồng/kg, dao động trong khoảng 76.000 - 79.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Nam tăng 13.500 đồng/kg, hiện đang ở mức 75.000 - 78.000 đồng/kg. Giá lợn hơi tăng do nhu cầu tiêu thụ cuối năm tăng mạnh. Trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng dự báo tiếp tục tăng khi cận Tết Nguyên đán, thị trường lợn hơi nhiều khả năng sẽ duy trì mặt bằng giá ổn định hoặc nhích nhẹ trong thời gian tới.
Giá thu mua gà thịt lông màu biến động giảm tại ba miền. Giá gà thịt lông màu miền Bắc giảm 2.000 đồng/kg xuống mức 55.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Trung giảm 1.300 đồng/kg, hiện ở mức 51.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Nam giảm 4.000 đồng/kg xuống còn 49.000 đồng/kg.
Giá gà công nghiệp biến động trái chiều tại ba miền. Giá gà công nghiệp miền Bắc tăng 9.000 đồng/kg lên 41.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Trung giảm 2.000 đồng/kg xuống mức 31.000 đồng/kg Giá gà công nghiệp miền Nam tăng 1.000 đồng/kg, hiện là 33.000 đồng/kg.
Giá thu mua trứng gà biến động giảm tại ba miền. Giá trứng gà miền Bắc giảm 400 đồng/quả xuống còn 2.100 đồng/quả. Giá trứng gà miền Trung giảm 510 đồng/quả, hiện ở mức 2.130 đồng/quả. Giá trứng gà miền Nam giảm 650 đồng/quả xuống còn 1.870 đồng/quả.
Nhận định: Nhu cầu thịt, trứng dự kiến tăng trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Nguồn cung hiện cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đặc biệt cho giai đoạn cao điểm cuối năm. Trong giai đoạn cận Tết, giá thịt và trứng sẽ tăng, tuy nhiên không biến động mạnh.
Trong tháng 01/2026, giá thịt lợn kỳ hạn tháng 2/2026 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá thịt lợn) biến động tăng với mức tăng 3,95 US cent/lb lên 89,05 US cent/lb. Giá thịt lợn tăng do nhu cầu tiêu thụ tăng.
Giá bò hơi kỳ hạn tháng 2/2026 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá bò hơi) tăng 4 US cent/lb lên 235,6 US cent/lb. Giá bò hơi tăng do dhiệt độ xuống thấp và lượng mưa tuyết làm gián đoạn thị trường gia súc. Bên cạnh đó, báo cáo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ cho thấy số lượng gia súc nuôi lấy thịt giảm so với cùng kỳ năm ngoái.
THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU
Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi
Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 1/2026 ước đạt 47,5 triệu USD, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 15,1 triệu USD, tăng gấp 3 lần; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 15,9 triệu USD, tăng 29,6%.
Nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi năm 2025
Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 1/2026 ước đạt 423 triệu USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 150 triệu USD, tăng 44,3%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 190,7 triệu USD, tăng 22,2%.
Xuất khẩu thức ăn chăn nuôi: (đang cập nhật)
Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi:
Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 1/2026 ước đạt 390 triệu USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước.
Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính năm 2025 là các thị trường Áchentina, Hoa Kỳ và Braxin với thị phần lần lượt là 36,6%, 18,7% và 9,7%.
So với năm 2024, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu năm 2025 từ thị trường Áchentina giảm 3,7%, thị trường Hoa Kỳ giảm 15,4%, thị trường Braxin giảm 19,5%. Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh nhất ở thị trường Canađa với mức tăng 82,9% và giảm mạnh nhất ở thị trường Braxin với mức giảm 19,5%.
- Nhập khẩu ngô:
Nhập khẩu ngô tháng 1/2026 ước đạt 1,5 triệu tấn và 362 triệu USD, tăng 49,9% về khối lượng và tăng 44,9% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá ngô nhập khẩu bình quân tháng 1/2026 ước đạt 241,5 USD/tấn, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước.
Áchentina và Braxin là 2 thị trường cung cấp ngô chính cho Việt Nam năm 2025 với thị phần lần lượt là 46,7% và 33,7%. So với năm 2024, giá trị nhập khẩu ngô năm 2025 từ thị trường Áchentina giảm 10,1% và thị trường Braxin giảm 16,2%.
- Nhập khẩu đậu tương:
Nhập khẩu đậu tương tháng 1/2026 ước đạt 300 nghìn tấn và 141 triệu USD, tăng 61,8% về khối lượng và tăng 64% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá đậu tương nhập khẩu bình quân tháng 1/2026 ước đạt 469,7 USD/tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước.
Năm 2025, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu đậu tương từ 2 thị trường Braxin và Hoa Kỳ với tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ 2 thị trường này lần lượt là 46,2% và 42,6%.
So với năm 2024, giá trị nhập khẩu đậu tương năm 2025 từ thị trường Braxin tăng 4,8% và thị trường Hoa Kỳ tăng 11,4%.
- Nhập khẩu lúa mì:
Nhập khẩu lúa mì tháng 1/2026 ước đạt 300 nghìn tấn và 83 triệu USD, giảm 25,7% về khối lượng và giảm 23% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá lúa mì nhập khẩu bình quân tháng 1/2026 ước đạt 275,6 USD/tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước.
Nguồn cung cấp lúa mì chính của Việt Nam năm 2025 là từ các thị trường Ôxtrâylia với thị phần 26,1%, Braxin 18,4%, Hoa Kỳ 17,7%, và Ucraina 13%. So với năm 2024, giá trị nhập khẩu lúa mì năm 2025 từ thị trường Ôxtrâylia tăng 5,3%, thị trường Hoa Kỳ tăng 72,6%, trong khi thị trường Braxin giảm 8,7% và thị trường Ucraina giảm 50,8%.