TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 1/2026

07 THG02

TÌNH HÌNH CHUNG 

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp & MT, đàn lợn cả nước dần hồi phục sau dịch bệnh, tổng đàn lợn cả nước ước tính đến cuối tháng 1/2025 tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm tiếp tục phát triển nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh, tỏng số gia cầm cả nước ước tính tăng 5,2%. Chăn nuôi lợn đang dần phục hồi sau ảnh hưởng của dịch bệnh, chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định, đáp ứng nhu cầu thị trường và phục vụ tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán 2026. Tình hình chăn nuôi tháng 1/2026 cụ thể:

Chăn nuôi lợn: Đàn lợn cả nước dần phục hồi sau dịch bệnh, nhiều doanh nghiệp và trang trại chăn nuôi quy mô lớn tiếp tục duy trì sản xuất ổn định, đầu tư mở rộng sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán 2026.

Tính đến cuối tháng 01/2026, tổng đàn lợn cả nước ước tính tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước và tăng 0,5% so với thời điểm cuối tháng 12/2025. Một số địa phương nhờ áp dụng hiệu quả các biện pháp an toàn sinh học nên đàn lợn tăng cao so với cùng kỳ: Gia Lai tăng 13,8%; Tây Ninh tăng 19,9%.

Chăn nuôi gia cầm: Đàn gia cầm tiếp tục phát triển nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh và nhu cầu tiêu dùng tăng cao. Các cơ sở chăn nuôi chuẩn bị đủ nguồn cung thịt và trứng gia cầm phục vụ cho tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán. Tổng số gia cầm của cả nước thời điểm cuối tháng 01/2026 ước tính tăng 5,2% so với cùng thời điểm năm 2025.

Chăn nuôi trâu, bò: Chăn nuôi trâu, bò vẫn gặp khó khăn do hiệu quả kinh tế không cao, giá bán thiếu ổn định, trong khi chi phí chăn nuôi có xu hướng tăng, người dân hạn chế đầu tư tái đàn. Tổng số trâu của cả nước thời điểm cuối tháng 01/2026 ước tính giảm 4,5% so với cùng kỳ năm trước; tổng số bò giảm 1,7%.

Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 1/2026 ước đạt 47,5 triệu USD, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 15,1 triệu USD, tăng gấp 3 lần; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 15,9 triệu USD, tăng 29,6%.

Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 1/2026 ước đạt 423 triệu USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 150 triệu USD, tăng 44,3%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 190,7 triệu USD, tăng 22,2%.

Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 1/2026 ước đạt 390 triệu USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính năm 2025 là các thị trường Áchentina, Hoa Kỳ và Braxin với thị phần lần lượt là 36,6%, 18,7% và 9,7%.

Về thú y: Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, tình hình dịch bệnh nguy hiểm trên động vật trên cạn cơ bản được kiểm soát, các ổ dịch xảy ra chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ tại các hộ chăn nuôi không đảm bảo điều kiện an toàn sinh học và chưa được tiêm phòng vắc xin đầy đủ, cụ thể như sau:

Bệnh Cúm gia cầm (GCC): Cả nước chỉ ghi nhận 03 ổ dịch tại tỉnh Ninh Bình với 875 con bị tiêu hủy;

Bệnh Dại động vật: Cả nước ghi nhận 10 ca bệnh tại 05 tỉnh, thành phố. Số ổ dịch và số động vật tiêu hủy đều giảm so với cùng kỳ năm trước;

Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Cả nước xảy ra 131 ổ dịch tại 22 tỉnh, thành phố. Các địa phương thiệt hại nặng nhất bao gồm Ninh Bình (2.018 con) và Lâm Đồng (1.076 con);

Bệnh Viêm da nổi cục: Cả nước phát sinh 02 ổ dịch tại 02 tỉnh với 02 con trâu, bò bị tiêu hủy. Hiện cả nước vẫn còn 01 ổ dịch chưa qua 21 ngày;

+ Các bệnh khác như Bệnh Lở mồm long móng và Tai xanh không ghi nhận ổ dịch mới trong tháng 01/2026.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Giá thu mua lợn hơi trong nước biến động tăng mạnh trong tháng 01/2026. So với tháng 12/2025, giá lợn hơi tại miền Bắc tăng 10.500 đồng/kg lên 78.000 - 81.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Trung - Tây Nguyên tăng 10.900 đồng/kg, dao động trong khoảng 76.000 - 79.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Nam tăng 13.500 đồng/kg, hiện đang ở mức 75.000 - 78.000 đồng/kg. Giá lợn hơi tăng do nhu cầu tiêu thụ cuối năm tăng mạnh. Trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng dự báo tiếp tục tăng khi cận Tết Nguyên đán, thị trường lợn hơi nhiều khả năng sẽ duy trì mặt bằng giá ổn định hoặc nhích nhẹ trong thời gian tới.

Giá thu mua gà thịt lông màu biến động giảm tại ba miền. Giá gà thịt lông màu miền Bắc giảm 2.000 đồng/kg xuống mức 55.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Trung giảm 1.300 đồng/kg, hiện ở mức 51.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Nam giảm 4.000 đồng/kg xuống còn 49.000 đồng/kg.

Giá gà công nghiệp biến động trái chiều tại ba miền. Giá gà công nghiệp miền Bắc tăng 9.000 đồng/kg lên 41.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Trung giảm 2.000 đồng/kg xuống mức 31.000 đồng/kg Giá gà công nghiệp miền Nam tăng 1.000 đồng/kg, hiện là 33.000 đồng/kg.

Giá thu mua trứng gà biến động giảm tại ba miền. Giá trứng gà miền Bắc giảm 400 đồng/quả xuống còn 2.100 đồng/quả. Giá trứng gà miền Trung giảm 510 đồng/quả, hiện ở mức 2.130 đồng/quả. Giá trứng gà miền Nam giảm 650 đồng/quả xuống còn 1.870 đồng/quả.

Nhận định: Nhu cầu thịt, trứng dự kiến tăng trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Nguồn cung hiện cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đặc biệt cho giai đoạn cao điểm cuối năm. Trong giai đoạn cận Tết, giá thịt và trứng sẽ tăng, tuy nhiên không biến động mạnh.

Trong tháng 01/2026, giá thịt lợn kỳ hạn tháng 2/2026 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá thịt lợn) biến động tăng với mức tăng 3,95 US cent/lb lên 89,05 US cent/lb. Giá thịt lợn tăng do nhu cầu tiêu thụ tăng.

Giá bò hơi kỳ hạn tháng 2/2026 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá bò hơi) tăng 4 US cent/lb lên 235,6 US cent/lb. Giá bò hơi tăng do dhiệt độ xuống thấp và lượng mưa tuyết làm gián đoạn thị trường gia súc. Bên cạnh đó, báo cáo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ cho thấy số lượng gia súc nuôi lấy thịt giảm so với cùng kỳ năm ngoái.

THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU 

Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi

Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 1/2026 ước đạt 47,5 triệu USD, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 15,1 triệu USD, tăng gấp 3 lần; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 15,9 triệu USD, tăng 29,6%.

Nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi năm 2025 

Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 1/2026 ước đạt 423 triệu USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 150 triệu USD, tăng 44,3%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 190,7 triệu USD, tăng 22,2%.

Xuất khẩu thức ăn chăn nuôi: (đang cập nhật)

Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi:

Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 1/2026 ước đạt 390 triệu USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước.

Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính năm 2025 là các thị trường Áchentina, Hoa Kỳ và Braxin với thị phần lần lượt là 36,6%, 18,7% và 9,7%.

So với năm 2024, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu năm 2025 từ thị trường Áchentina giảm 3,7%, thị trường Hoa Kỳ giảm 15,4%, thị trường Braxin giảm 19,5%. Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh nhất ở thị trường Canađa với mức tăng 82,9% và giảm mạnh nhất ở thị trường Braxin với mức giảm 19,5%.

Nhập khẩu ngô:

Nhập khẩu ngô tháng 1/2026 ước đạt 1,5 triệu tấn và 362 triệu USD, tăng 49,9% về khối lượng và tăng 44,9% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá ngô nhập khẩu bình quân tháng 1/2026 ước đạt 241,5 USD/tấn, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước.

Áchentina và Braxin là 2 thị trường cung cấp ngô chính cho Việt Nam năm 2025 với thị phần lần lượt là 46,7% và 33,7%. So với năm 2024, giá trị nhập khẩu ngô năm 2025 từ thị trường Áchentina giảm 10,1% và thị trường Braxin giảm 16,2%.

Nhập khẩu đậu tương:

Nhập khẩu đậu tương tháng 1/2026 ước đạt 300 nghìn tấn và 141 triệu USD, tăng 61,8% về khối lượng và tăng 64% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá đậu tương nhập khẩu bình quân tháng 1/2026 ước đạt 469,7 USD/tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước.

Năm 2025, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu đậu tương từ 2 thị trường Braxin và Hoa Kỳ với tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ 2 thị trường này lần lượt là 46,2% và 42,6%.

So với năm 2024, giá trị nhập khẩu đậu tương năm 2025 từ thị trường Braxin tăng 4,8% và thị trường Hoa Kỳ tăng 11,4%.

Nhập khẩu lúa mì:

Nhập khẩu lúa mì tháng 1/2026 ước đạt 300 nghìn tấn và 83 triệu USD, giảm 25,7% về khối lượng và giảm 23% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá lúa mì nhập khẩu bình quân tháng 1/2026 ước đạt 275,6 USD/tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước.

Nguồn cung cấp lúa mì chính của Việt Nam năm 2025 là từ các thị trường Ôxtrâylia với thị phần 26,1%, Braxin 18,4%, Hoa Kỳ 17,7%, và Ucraina 13%. So với năm 2024, giá trị nhập khẩu lúa mì năm 2025 từ thị trường Ôxtrâylia tăng 5,3%, thị trường Hoa Kỳ tăng 72,6%, trong khi thị trường Braxin giảm 8,7% và thị trường Ucraina giảm 50,8%.

Other news

13 THG04

Đồng Nai: Phòng dịch tốt để phát triển chăn nuôi bền vững

Sau sáp nhập, tỉnh Đồng Nai tiếp tục giữ vị trí là “thủ phủ” chăn nuôi của cả nước. Năm 2025, tỉnh Đồng Nai cung cấp ra thị trường gần 1,16 triệu tấn thịt các loại, tăng hơn 5,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tuy nhiên, do phát triển mạnh đàn vật nuôi nên các địa phương trên địa bàn tỉnh cũng đối mặt với thách thức lớn trong công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi. Các địa phương càng chú trọng đến công tác phòng, chống dịch, đảm bảo phát triển chăn nuôi bền vững.

Nhiều thách thức trong phòng, chống dịch bệnh

Thời gian qua, tỉnh Đồng Nai phát triển mạnh chăn nuôi công nghiệp với quy mô hàng hóa lớn. Các trang trại chăn nuôi chú trọng áp dụng đồng bộ các giải pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, góp phần phòng, chống dịch, bệnh hiệu quả cho đàn vật nuôi. Đến nay, toàn tỉnh có khoảng 3,94 triệu con heo, chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 90% tổng đàn. Tổng đàn gà khoảng 32,6 triệu con, chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 89% tổng đàn.

Tuy chăn nuôi nhỏ lẻ chỉ chiếm 10% trên tổng đàn với chăn nuôi heo nhưng trên địa bàn vẫn còn khoảng 12,5 ngàn hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và gần 26,5 ngàn hộ chăn nuôi gà. Do chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn thu hút đông nông hộ tham gia, tiềm ẩn rủi ro dịch bệnh cao do thiếu vệ sinh thú ý, vẫn còn tình trạng chăn nuôi trong khu dân cư nên chưa thực hiện tốt các giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học.

chăn nuôi đồng nai

Trang trại chăn nuôi gà công nghiệp tại xã Xuân Đông thực hiện tốt các giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học. Ảnh: Bình Nguyên

Chăn nuôi nông hộ dễ xuất hiện dịch bệnh. Năm 2025, toàn tỉnh có 37 xã với 178 cơ sở chăn nuôi xuất hiện dịch tả heo châu Phi, tiêu hủy hơn 7,4 ngàn con heo, tăng hơn 135,5% so với năm 2024. Ngoài ra, nhiều địa phương cũng xuất hiện các dịch bệnh khác trên vật nuôi như: viêm da nổi cục, cúm gia cầm…

Ông Lê Hồng Phong, Giám đốc Trung tâm Kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương II nhận xét: Trong quý I-2026, tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, nhất là các bệnh cúm gia cầm, dịch tả heo châu Phi với nhiều biến chủng. Dịch bệnh xuất hiện nhiều ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Đồng Nai là “thủ phủ” chăn nuôi với tỷ trọng chăn nuôi lớn nhất nước, tập trung trại giống rất nhiều. Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Tỉnh cần triển khai hiệu quả các giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học, hạn chế dịch bệnh ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi.

Ông Nguyễn Hữu Chiến, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Đông cho biết: Địa phương phát triển mạnh chăn nuôi, trong đó tập trung nhiều trang trại quy mô lớn. Ngày 23-3, trên địa bàn xã có một trại heo thông báo xuất hiện tình hình heo chết. Kết quả trại này có heo nhiễm dịch tả châu Phi. Nguyên nhân do trang trại này nhập heo con bên ngoài về nuôi và nguồn nhiễm bệnh từ heo con mới nhập về. Đến nay, tình trạng dịch bệnh được khống chế. Công tác tiêu trùng, khử độc được thực hiện tốt. Khó khăn của địa phương là tập trung đông các cơ sở chăn nuôi nhưng hiện chỉ có một cán bộ thú y, thiếu về nhân lực, nhất là khi xảy ra dịch bệnh cần lực lượng phản ứng nhanh trong xử lý dịch bệnh.

Ông Nguyễn Trường Giang, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Đồng Nai cho biết: Thời gian qua, công tác triển khai phòng, chống dịch bệnh tại các xã, phường trên địa bàn tỉnh được thực hiện tốt. Công tác phòng, chống dịch yêu cầu phải nhanh, gọn, có thông tin dịch bệnh là phải xử lý ngay. Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh luôn phối hợp tốt với các địa phương trong công tác phòng, chống dịch bệnh. Khi có địa phương xuất hiện ổ dịch và báo lên, trong vòng 24 giờ, đơn vị đều kịp thời xuống ổ dịch phối hợp cùng địa phương xử lý.

Chủ động phòng, chống dịch

Chủ động phòng, chống dịch hiệu quả, ngay từ đầu năm, các địa phương chủ động xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí cho công tác phòng, chống dịch trên gia súc, gia cầm, thủy sản năm 2026.

Tại Hội nghị Phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi năm 2026, đại diện phường Bình Phước cho hay: Đến nay, UBND phường Bình Phước luôn xác định công tác phòng, chống dịch bệnh là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên để bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần phát triển kinh tế địa phương. Đặc biệt, dịch tả heo châu Phi xuất hiện trên địa bàn và vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái phát. Địa phương tập trung triển khai đồng loạt các giải pháp phòng, chống dịch bệnh, không để dịch bệnh lây lan. Công tác giám sát dịch bệnh tại các địa bàn có cơ sở chăn nuôi được chú trọng. Trong năm 2026, UBND phường Bình Phước tiếp tục tập trung thực hiện các kế hoạch tỉnh giao; chú trọng công tác tuyên truyền về phòng, chống dịch bệnh, chăn nuôi an toàn; nâng cao tỷ lệ tiêm phòng, giám sát chăn nuôi nông hộ.

Ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi tỉnh Đồng Nai chia sẻ: Tình hình dịch bệnh trên heo, gà, trâu bò vẫn diễn biến phức tạp. Việc tổ chức chôn lấp động vật bị dịch bệnh tại chỗ nơi trang trại xảy ra ổ dịch bệnh có rủi ro ô nhiễm nguồn nước ngầm, nguồn dịch bệnh tồn tại lâu. Các địa phương nên có giải pháp xử lý heo, gà bệnh phù hợp hơn, nhất là những trang trại chăn nuôi quy mô lớn để hạn chế dịch bệnh lây lan. Tình hình dịch tả heo châu Phi vẫn diễn biến phức tạp, nhất là với các trang trại nhỏ lẻ do hiệu quả vaccine dịch tả heo châu Phi chưa cao. Tỉnh Đồng Nai thực hiện tốt công tác kiểm soát, giám sát dịch bệnh. Tuy nhiên, tỉnh cần quan tâm, kiểm soát chặt chẽ hơn về hoạt động giết mổ, nhất là xử lý tình hình giết mổ lậu hiệu quả sẽ góp phần rất lớn trong kiểm soát dịch bệnh.

Nguồn: Báo Đồng Nai

03 THG04

Lâm Đồng tăng cường phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Ph

Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Trọng Yên vừa có văn bản chỉ đạo các sở, ban, ngành liên quan và các địa phương trong tỉnh tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) trên địa bàn tỉnh.

Người chăn nuôi chú trọng vệ sinh, phòng, chống dịch bệnh.

Theo đó, để chủ động phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh DTLCP kịp thời, hiệu quả, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành liên quan và Chủ tịch UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý tuyệt đối không chủ quan, lơ là trong công tác phòng, chống dịch bệnh trên động vật, đặc biệt là bệnh DTLCP.

Cụ thể, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra công tác phòng, chống dịch bệnh DTLCP. Song song đó, phối hợp với UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý chủ động giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, phát hiện sớm, cảnh báo và chỉ đạo xử lý triệt để ổ dịch, không để dịch bệnh lây lan trên diện rộng…

Các sở, ngành liên quan chỉ đạo tăng cường kiểm soát lưu thông. Qua đó, phát hiện, kịp thời ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp buôn bán, vận chuyển lợn và các sản phẩm từ lợn mắc bệnh, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, chưa qua kiểm dịch trên thị trường ra, vào địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, chủ động, tích cực chia sẻ thông tin, dữ liệu với cơ quan thú y các cấp; phối hợp tổ chức chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo quy định của pháp luật.

Song song đó, việc tuyên truyền về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh DTLCP; thông tin kịp thời, chính xác về diễn biến dịch bệnh để người dân không hoang mang, chủ động áp dụng các biện pháp phòng bệnh theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn; kịp thời phản bác các thông tin sai lệch, gây hoang mang, lo lắng trong Nhân dân… cần được đẩy mạnh.

UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý cần tập trung huy động các nguồn lực trên địa bàn tổ chức triển khai, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phòng, chống bệnh DTLCP; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp mua bán, vận chuyển, giết mổ lợn bệnh, vứt xác lợn chết làm lây lan dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng cho người dân và cộng đồng.

Nguồn: Báo Lâm Đồng

06 THG03

Chăn nuôi heo khởi sắc đầu năm 2026, ngành chăn nuôi vẫn thận trọng trước nguy cơ dịch bệnh

Sau giai đoạn chịu tác động của dịch bệnh và nhu cầu tiêu dùng biến động, hoạt động chăn nuôi heo trong nước đang dần khởi sắc trở lại. Tuy vậy, nguy cơ bùng phát dịch tả heo châu Phi vẫn được cảnh báo, trong khi chăn nuôi trâu, bò tiếp tục đối mặt nhiều khó khăn.
25 THG02

Giữ đàn vật nuôi an toàn sau Tết: Mô hình nhỏ, an toàn lớn

Sau Tết, nguy cơ dịch bệnh tăng cao. Việc người dân chủ động chăn nuôi an toàn, tiêm phòng đủ, theo dõi sát giúp giữ đàn vật nuôi khỏe mạnh.

07 THG02

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 1/2026

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 1/2026

26 THG11

Feed prices for aquaculture in 2025 show a downward trend, supporting farmers in restoring production

At the Conference on Feed Management and Environmental Treatment Products for Aquaculture, organized on the morning of November 21 by the Directorate of Fisheries and the Fisheries Surveillance Department in coordination with the Department of Agriculture and Rural Development of Ho Chi Minh City, reports indicated that aquaculture feed prices in 2025 are not increasing compared to 2024 and are trending downward.
20 THG11

The global frozen shrimp market is expected to move toward strong growth through 2035

The global frozen shrimp market is projected to increase from approximately USD 18,742.6 million in 2025 to USD 32,847.3 million by 2035 — equivalent to about 75.3% growth over the next 10 years. The compound annual growth rate (CAGR) is estimated at 5.8% from 2025 to 2035.
12 THG11

Applying technical innovations to develop sustainable brackish-water shrimp farming in the Mekong Delta

Vietnam’s shrimp industry plays a strategic role, contributing up to 45% of the country’s seafood export value and providing livelihoods for millions of households. However, climate change, stricter quality and traceability requirements, and increasing global competition are posing major challenges. The development goal is no longer to increase volume but to enhance value, sustainability, and environmental responsibility.