HOẠI TỬ CƠ (IMNV) TRÊN TÔM VÀ CHIẾN LƯỢC KIỂM SOÁT

20 THG08

Kiểm soát Hoại tử cơ (IMNV) trên tôm rất quan trọng, vì tỷ lệ chết khi tôm nhiễm IMNV có thể lên tới 70%. Theo Lightner và cộng sự, 2012 dịch bệnh do IMNV từ năm 2002 đến năm 2011 đã gây ra tổn thất cho ngành tôm ước tính hơn 1 tỷ USD. 

Nguyên nhân

Trong số các bệnh đáng chú ý của OIE là bệnh hoại tử cơ (IMN), nguyên nhân là do infectious myonecrosis virus (IMNV) gây ra. 

IMNV được phân loại là một thành viên của họ Totiviridae và được phát hiện có liên quan chặt chẽ nhất với virut Giardia lamblia (Poulos et al., 2006; Nibert, 2007). IMNV là virus có vật chất di truyền là ARN mạch đôi, với kích thước 7.560bp, cấu trúc không có lớp màng bao.

IMNV là một bệnh do virus gây ra tỷ lệ tử vong đáng kể trong quần thể tôm thẻ chân trắng. Mô đích của nhiễm trùng IMNV là cơ vân (cơ xương, và ít gặp hơn ở cơ tim). Tôm bị nhiễm IMNV tập trung vào các khu vực hoại tử trắng ở cơ vân, đặc biệt là ở các phần bụng và đuôi.

Loài cảm nhiễm: IMNV lây nhiễm trên họ tôm he, bao gồm các loài được nuôi phổ biến như tôm thẻ trắng (Penaeus vannamei) và tôm sú (P. monodon), tôm sú nâu (Penaeus esculentus), tôm bạc thẻ (P. merguiensis).

Phương thức lây truyền

IMNV có thể được truyền theo cả chiều ngang và chiều dọc. Có khả năng, mặc dù không có bằng chứng rõ ràng, rằng virus có thể được truyền qua nước hoặc trầm tích, như đã được chứng minh với các virus tôm khác. IMNV có thể được truyền qua đường tiêu hóa của mô bị nhiễm bệnh thông qua việc ăn thịt tôm bị bệnh và chết. Ấu trùng tôm có thể bị nhiễm bệnh thông qua truyền dọc. IMNV đã được phát hiện trong trứng và buồng trứng của tôm mẹ bị nhiễm bệnh, cho thấy có sự lây truyền từ mẹ sang con (da Silva et al., 2016).

Vectơ và vật chủ

Artemia sp. là một thức ăn thiết yếu được sử dụng trong nuôi tôm và trưởng thành.  Silva et al., 2015 đã chứng minh rằng A. franciscana có thể hoạt động như một vector mang mầm bệnh IMNV.

IMNV vẫn có thể lây nhiễm trong ruột và phân của những con chim biển ăn tôm chết sau đó bệnh được lan truyền trong và giữa các trang trại thông qua phân chim hoặc xác tôm bệnh.

Các yếu tố ảnh hưởng đến truyền bệnh và biểu hiện bệnh

Tỷ lệ mắc IMN thường trở nên thường xuyên hơn trong mùa mưa ở phía đông bắc Brazil. Trong các nghiên cứu nhiễm trùng trong phòng thí nghiệm, người ta đã chứng minh rằng việc giảm độ mặn từ 35 ppt (điều kiện bình thường) xuống 5 ppt (điều kiện căng thẳng) làm tăng sự phát triển của virus (Vieira-Girão et al., 2015). Sự thay đổi này có thể liên quan đến tác dụng thẩm thấu trên hệ thống phòng thủ miễn dịch của tôm.

Triệu chứng

Chẩn đoán nhiễm trùng

Có thể đưa ra chẩn đoán nhiễm IMNV thông qua việc kiểm tra các phần mô học của cơ xương, cơ vân được nhuộm bằng haematoxylin và eosin (H & E).

Tuy nhiên, để chẩn đoán và xác định tình trạng lâm sàng, xét nghiệm RT-PCR hoặc RT-qPCR (reverse transcriptase polymerase chain reaction) được khuyến nghị (OIE, 2018b).

Dấu hiệu lâm sàng

Tôm bệnh hoại tử cơ ở giai đoạn cấp tính xuất hiện các vùng hoại tử trắng rộng ở các cơ vân như phần cơ bụng và cơ đuôi trắng đục, đặc biệt là các phần bụng và dẫn đến hiện tượng hoại tử và sau khi chết các phần này có màu đỏ tương tự như màu của tôm nấu chín (Poulos và cộng sự, 2006). Dấu hiệu lâm sàng đặc biệt, màu trắng, đục cơ, thường nổi bật hơn ở tôm thẻ P. vannamei so với tôm xanh P. stylirostris và tôm sú P. monodon. 

IMN có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào của tôm và là một bệnh nhiễm trùng mãn tính. Tỷ lệ tử vong có thể lên tới 70% vào cuối chu kỳ nuôi (Nunes, Cunha-Martins và VasconselosGesteira, 2004). Bằng chứng của bệnh, ngoài sự xuất hiện của trắng cơ đuôi, là tôm trở nên lờ đờ và giảm ăn.

Các dấu hiệu lâm sàng này cũng có thể được gây ra do tôm mắc một số bệnh khác, ví dụ: thiếu oxy, đông đúc, thay đổi nhiệt độ hoặc độ mặn đột ngột (Lightner, 1988). IMNV khác với các bệnh trắng đuôi được tìm thấy ở họ tôm he hoặc trong tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii), mặc dù các dấu hiệu lâm sàng và mô học là tương tự nhau. Bệnh trắng đuôi biểu hiện các dấu hiệu tổng thể và mô học bắt chước IMN, nhưng gây ra bởi nodaviruses: Penaeus vannamei nodaviruses (PvNV) (Tang et al., 2007) và Macrobrachium rosenbergii nodaviruses (MrNV). Để phân biệt giữa IMNV và PvNV trong P. vannamei và MrNV ở M. rosenbergii, xét nghiệm RT-PCR (RT-qPCR) là cần thiết. Tuy nhiên, loại tử vong này cũng có thể được gây ra bởi nhiễm trùng do vi khuẩn liên quan đến căng thẳng. Kiểm tra mô học và / hoặc phân lập vi khuẩn có thể được sử dụng để xác định sự xuất hiện đó và phân biệt chúng với nhiễm IMNV.

Mô bệnh học


Hình 6. Đặc điểm mô bệnh học của bệnh hoại tử cơ IMNV trên tôm thẻ chân.

(A) hoại tử đông (sao) của cơ xương kèm theo thâm nhiễm tan máu (mũi tên trắng)

(B) perinuclear basophilic (mũi tên đen) trong các tế bào cơ

(C) sự hiện diện của các spoidids cơ quan bạch huyết

(D) ectopic spheroids ở cơ tim. Thanh tỷ lệ = 25 mm.

Phân bố

IMNV được phát hiện ở tôm nuôi ở Brazil vào năm 2002 sau đó được báo cáo vào năm 2006 ở Indonesia, năm 2016 ở Ấn Độ và gần đây nhất là ở Malaysia vào năm 2018. 

 


Tôm thẻ chết do bệnh hoại tử cơ ở các trang trại nằm ở (A) phía đông bắc Brazil năm 2002; (B) Đông Java, Indonesia năm 2006.

 

Phòng trị

Phòng ngừa và điều trị

Tôm có một hệ thống miễn dịch bẩm sinh chống lại nhiễm virus, chỉ liên quan đến các phản ứng sinh lý không đặc hiệu. Tăng cường khả năng kháng bệnh thông qua việc kích thích hệ thống miễn dịch bẩm sinh bằng cách đưa-1,3 / 1,6-glucan (0,1 phần trăm) vào thức ăn của tôm (Neto và Nunes, 2015).

Virus mang trong tôm bị nhiễm bệnh mãn tính vẫn gây bệnh cho tôm khỏe mạnh và có thể biểu hiện như một bệnh nhiễm trùng cấp tính trong các điều kiện căng thẳng khác nhau. Các yếu tố căng thẳng có thể phát sinh từ nhiều nguồn, bao gồm nhiệt độ nước, độ mặn, mật độ thả hoặc sinh khối ao.

Kiểm soát dịch bệnh

Có một số biện pháp để ngăn chặn sự lây lan của IMNV, bao gồm kiểm dịch và kiểm soát lây nhiễm, sử dụng PL không có IMNV, sử dụng tôm kháng bệnh, sử dụng men vi sinh, khử trùng ấu trùng và trứng tôm, thu hoạch khẩn cấp, tiêu hủy tôm bị nhiễm bệnh, xử lý vật chủ bị bệnh, khử trùng các trang trại bị nhiễm bệnh và kiểm soát véc tơ truyền bệnh.

Kiểm soát lây lan từ cơ sở bị nhiễm bệnh (khu vực) nên bao gồm:

 Cấm di chuyển tôm sống và chưa nấu chín từ các cơ sở bị nhiễm bệnh vào các khu vực không có IMNV và các nhà máy chế biến ngoài địa điểm.

 Hạn chế hoặc cấm thả tôm và nước ao từ cơ sở bị nhiễm bệnh vào môi trường nước.

Cấm sử dụng tôm chưa nấu chín trong các cơ sở bị nhiễm bệnh để làm mồi câu cá.

Cấm xả nước thải nhà máy chế biến mà không cần xử lý trong cơ sở bị nhiễm bệnh.

Kiểm soát xử lý tôm chết.

Kiểm soát sự tiếp cận của chim biển đến tôm sống và chết trong cơ sở bị nhiễm bệnh.

Hạn chế hoặc cấm sử dụng và di chuyển thiết bị và phương tiện giữa các trang trại trong khuôn viên bị nhiễm bệnh.

Sử dụng postlarvae không có IMNV

Ở hầu hết các quốc gia nuôi tôm, các trại giống P. vannamei chủ yếu sử dụng tôm bố mẹ không có IMNV và thực hiện an toàn sinh học nghiêm ngặt để sản xuất PL sạch bệnh. IMNV có thể được truyền đến PL bằng các tuyến dọc và ngang. Để đảm bảo rằng tôm bố mẹ và PL không có IMNV, trang trại cần thường xuyên kiểm tra IMNV và các bệnh nghiêm trọng khác bằng phương pháp RT-PCR (hoặc RT-qPCR). Nếu kết quả dương tính được tìm thấy PL không được phép thả vào ao nuôi. PL dương tính IMNV phải được tiêu hủy và khử trùng toàn bộ trại giống bằng cách sử dụng các hóa chất như clo, sau đó sấy khô trong hai tuần để đảm bảo diệt virus.

Sử dụng men vi sinh

Probiotic được chứng minh là tăng cường khả năng miễn dịch bẩm sinh (miễn dịch không đặc hiệu) ở tôm và chống lại mầm bệnh, bao gồm cả virus và vi khuẩn. Việc bổ sung men vi sinh làm chất chống vi-rút là rất phổ biến trong ngành nuôi tôm. Ví dụ, Bacillus megaterium được chứng minh là làm tăng khả năng kháng WSSV và vibriosis ở P. vannamei (Balcazar, 2003; Li, Tan và Mai, 2009). Một vai trò khác của men vi sinh là cải thiện chất lượng nước (nghĩa là pH, oxy hòa tan, carbon dioxide hòa tan và tải trọng hữu cơ và khoáng chất). 

Tôm được cho ăn một loại synbiotic có chứa vi khuẩn Vibrio alginolyticus và prebiotic (oligosacarit từ khoai lang) được chứng minh là có tỷ lệ sống cao hơn và tăng trưởng tốt hơn so với các nhóm đối chứng trong các thử nghiệm thách thức với IMNV (Oktaviana, Widanarni và Yuhana, 2014).

Ở Indonesia, nông dân thường áp dụng chế phẩm sinh học hai lần mỗi tuần để cải thiện chất lượng nước. Các men vi sinh được sử dụng là vi khuẩn nitrat hóa, Bacillus spp. và vi khuẩn quang hợp. Khi bệnh được phát hiện trong quần thể tôm, Bacillus spp. và Lactobacillus spp. được trộn với thức ăn của tôm để tăng cường sức đề kháng với bệnh tật. Quy định của chính phủ Indonesia sẽ không cho phép sử dụng hơn 5 loại vi khuẩn trong 1 sản phẩm men vi sinh.

Khử trùng trứng và ấu trùng tôm

Trong trại giống tôm, IMNV có thể được truyền đến và giữa các con bằng các tuyến dọc và ngang. Rửa trứng và ấu trùng có thể có lợi để giảm tải lượng virus và tỷ lệ mắc tôm nhiễm bệnh IMNV. 

 

Tài liệu tham khảo

http://www.fao.org/3/ca6052en/CA6052EN.pdf

bởi VĂN THÁI Lược dịch

Ý kiến bạn đọc

Các tin khác

21 THG04

Khẩn: Biến chủng SAT -1 trên gia súc, sức tàn phá khủng khiếp

Trước nguy cơ xâm nhiễm của chủng virus FMD SAT-1 từ biên giới, Thứ trưởng Bộ NN - MT Phùng Đức Tiến yêu cầu kích hoạt hệ thống phòng thủ "từ sớm, từ xa" để bảo vệ sinh kế của người dân và an ninh thực phẩm quốc gia.

17.1t.jpg

Thứ trưởng Bộ NN-MT Phùng Đức Tiến chủ trì cuộc họp khẩn sáng nay để đối phó dịch bệnh. Nguồn nongnghiepmoitruong.vn

"Sát thủ mới” độc lực cực mạnh

Khác với các tuýp virus O, A hay Asia-1 đã quen thuộc tại Việt Nam, chủng SAT-1 (South African Territories 1) được ví như một "sát thủ mới" với độc lực cực mạnh. Đặc tính nguy hiểm nhất của chủng này là gây viêm cơ tim cấp tính và phá hủy hệ hô hấp.

Theo báo cáo của Cục Thú y, tỷ lệ tử vong trên thực địa là con số biết nói. Đối với heo, là động vật dễ bị tổn thương nhất. Nếu bị nhiễm bệnh, heo con có tỷ lệ chết lên đến 50 - 80% chỉ sau thời gian ngắn phát bệnh; heo thịt tỷ lệ chết khoảng 20%.

Còn đối với trâu, bò, dù có sức đề kháng tốt hơn nhưng tỷ lệ chết vẫn dao động từ 10 - 50% tùy tình trạng sức khỏe.

gia_heo_20240530122621(1).webp

Nếu bị lây nhiễm, thì heo là vật nuôi dễ bị thiệt hại lớn nhất từ vi rút SAT - 1. Nguồn: vov.vn

Dấu hiệu nhận biết nhiễm bệnh, ngoài các triệu chứng điển hình như sốt cao, loét miệng, móng và chảy nước bọt, gia súc nhiễm SAT-1 thường có biểu hiện khó thở nặng, bỏ ăn hoàn toàn và có thể chết đột ngột do suy tim trước khi các vết loét kịp lan rộng.

Khoảng trống vaccine và thách thức "chạy đua" với thời gian

Tại cuộc họp sáng 14/4 do Bộ NN-MT tổ chức, đánh giá của cơ quan chuyên môn cho biết, dù dịch bệnh chưa vào nước ta, nhưng một vấn đề nan giải được đặt ra: Việt Nam hiện chưa có kháng thể sẵn có cho chủng SAT-1 trong đàn vật nuôi. Các loại vaccine đa giá hiện hành không có tác dụng bảo hộ đối với biến chủng này.

Thách thức càng lớn khi việc nhập khẩu vaccine đơn giá chủng SAT-1 từ các tập đoàn đa quốc gia có thể mất tới 6 tháng, với mức giá dự kiến khoảng 40.000 VNĐ/liều. Đây là mức giá khá cao đối với hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, đặt ra bài toán về việc nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ giá hoặc dự phòng khẩn cấp, để kịp thời bao phủ miễn dịch cho các vùng trọng điểm.

Phải làm gì ngay lúc này?

Trong bối cảnh vaccine chưa thể có ngay, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh: "Vũ khí mạnh nhất hiện nay là kiểm soát biên giới và an toàn sinh học tại chuồng trại".

Theo đó, Bộ NN - MT đưa ra khuyến cáo khẩn cấp, là kiểm soát tuyệt đối nguồn gốc. Không mua bán, vận chuyển gia súc không rõ nguồn gốc, đặc biệt là tại các tỉnh biên giới phía Bắc và miền Trung.

Virus FMD rất nhạy cảm với môi trường axit và kiềm. Người dân cần tăng cường phun khử khuẩn bằng vôi bột hoặc các dung dịch sát trùng chuyên dụng (như Iodine, NaOH 2%) với tần suất cao hơn tại các cửa ngõ trang trại.

Khi phát hiện gia súc có biểu hiện sốt, lờ mờ, loét móng, chủ hộ phải báo ngay cho cơ quan thú y địa phương. Tuyệt đối không bán chạy hoặc vứt xác gia súc ra môi trường.

Để ứng phó, Bộ đã giao Cục Thú y xây dựng kế hoạch 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Giám sát chủ động tại cửa khẩu, đường mòn và nhập khẩu mẫu mồi xét nghiệm.

Giai đoạn 2: Nhập khẩu dự phòng vaccine và xây dựng bản đồ vùng nguy cơ cao.

Giai đoạn 3: Kích hoạt hệ thống phản ứng nhanh, bao vây ổ dịch ngay từ khi phát hiện ca đầu tiên.

Giai đoạn 4: Nghiên cứu sản xuất vaccine nội địa nhằm làm chủ công nghệ về lâu dài.

Dù virus FMD chủng SAT-1 không lây sang người, nhưng sức tàn phá về kinh tế là vô cùng lớn. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành (Công an, Biên phòng) và ý thức tự bảo vệ của người nông dân là chìa khóa duy nhất để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng mới trong ngành chăn nuôi.

Tấn Nguyễn - Tạp chí điện tử Nông Thôn Việt

13 THG04

Đồng Nai: Phòng dịch tốt để phát triển chăn nuôi bền vững

Sau sáp nhập, tỉnh Đồng Nai tiếp tục giữ vị trí là “thủ phủ” chăn nuôi của cả nước. Năm 2025, tỉnh Đồng Nai cung cấp ra thị trường gần 1,16 triệu tấn thịt các loại, tăng hơn 5,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tuy nhiên, do phát triển mạnh đàn vật nuôi nên các địa phương trên địa bàn tỉnh cũng đối mặt với thách thức lớn trong công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi. Các địa phương càng chú trọng đến công tác phòng, chống dịch, đảm bảo phát triển chăn nuôi bền vững.

Nhiều thách thức trong phòng, chống dịch bệnh

Thời gian qua, tỉnh Đồng Nai phát triển mạnh chăn nuôi công nghiệp với quy mô hàng hóa lớn. Các trang trại chăn nuôi chú trọng áp dụng đồng bộ các giải pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, góp phần phòng, chống dịch, bệnh hiệu quả cho đàn vật nuôi. Đến nay, toàn tỉnh có khoảng 3,94 triệu con heo, chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 90% tổng đàn. Tổng đàn gà khoảng 32,6 triệu con, chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 89% tổng đàn.

Tuy chăn nuôi nhỏ lẻ chỉ chiếm 10% trên tổng đàn với chăn nuôi heo nhưng trên địa bàn vẫn còn khoảng 12,5 ngàn hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và gần 26,5 ngàn hộ chăn nuôi gà. Do chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn thu hút đông nông hộ tham gia, tiềm ẩn rủi ro dịch bệnh cao do thiếu vệ sinh thú ý, vẫn còn tình trạng chăn nuôi trong khu dân cư nên chưa thực hiện tốt các giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học.

chăn nuôi đồng nai

Trang trại chăn nuôi gà công nghiệp tại xã Xuân Đông thực hiện tốt các giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học. Ảnh: Bình Nguyên

Chăn nuôi nông hộ dễ xuất hiện dịch bệnh. Năm 2025, toàn tỉnh có 37 xã với 178 cơ sở chăn nuôi xuất hiện dịch tả heo châu Phi, tiêu hủy hơn 7,4 ngàn con heo, tăng hơn 135,5% so với năm 2024. Ngoài ra, nhiều địa phương cũng xuất hiện các dịch bệnh khác trên vật nuôi như: viêm da nổi cục, cúm gia cầm…

Ông Lê Hồng Phong, Giám đốc Trung tâm Kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương II nhận xét: Trong quý I-2026, tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, nhất là các bệnh cúm gia cầm, dịch tả heo châu Phi với nhiều biến chủng. Dịch bệnh xuất hiện nhiều ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Đồng Nai là “thủ phủ” chăn nuôi với tỷ trọng chăn nuôi lớn nhất nước, tập trung trại giống rất nhiều. Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Tỉnh cần triển khai hiệu quả các giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học, hạn chế dịch bệnh ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi.

Ông Nguyễn Hữu Chiến, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Đông cho biết: Địa phương phát triển mạnh chăn nuôi, trong đó tập trung nhiều trang trại quy mô lớn. Ngày 23-3, trên địa bàn xã có một trại heo thông báo xuất hiện tình hình heo chết. Kết quả trại này có heo nhiễm dịch tả châu Phi. Nguyên nhân do trang trại này nhập heo con bên ngoài về nuôi và nguồn nhiễm bệnh từ heo con mới nhập về. Đến nay, tình trạng dịch bệnh được khống chế. Công tác tiêu trùng, khử độc được thực hiện tốt. Khó khăn của địa phương là tập trung đông các cơ sở chăn nuôi nhưng hiện chỉ có một cán bộ thú y, thiếu về nhân lực, nhất là khi xảy ra dịch bệnh cần lực lượng phản ứng nhanh trong xử lý dịch bệnh.

Ông Nguyễn Trường Giang, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Đồng Nai cho biết: Thời gian qua, công tác triển khai phòng, chống dịch bệnh tại các xã, phường trên địa bàn tỉnh được thực hiện tốt. Công tác phòng, chống dịch yêu cầu phải nhanh, gọn, có thông tin dịch bệnh là phải xử lý ngay. Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh luôn phối hợp tốt với các địa phương trong công tác phòng, chống dịch bệnh. Khi có địa phương xuất hiện ổ dịch và báo lên, trong vòng 24 giờ, đơn vị đều kịp thời xuống ổ dịch phối hợp cùng địa phương xử lý.

Chủ động phòng, chống dịch

Chủ động phòng, chống dịch hiệu quả, ngay từ đầu năm, các địa phương chủ động xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí cho công tác phòng, chống dịch trên gia súc, gia cầm, thủy sản năm 2026.

Tại Hội nghị Phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi năm 2026, đại diện phường Bình Phước cho hay: Đến nay, UBND phường Bình Phước luôn xác định công tác phòng, chống dịch bệnh là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên để bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần phát triển kinh tế địa phương. Đặc biệt, dịch tả heo châu Phi xuất hiện trên địa bàn và vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái phát. Địa phương tập trung triển khai đồng loạt các giải pháp phòng, chống dịch bệnh, không để dịch bệnh lây lan. Công tác giám sát dịch bệnh tại các địa bàn có cơ sở chăn nuôi được chú trọng. Trong năm 2026, UBND phường Bình Phước tiếp tục tập trung thực hiện các kế hoạch tỉnh giao; chú trọng công tác tuyên truyền về phòng, chống dịch bệnh, chăn nuôi an toàn; nâng cao tỷ lệ tiêm phòng, giám sát chăn nuôi nông hộ.

Ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi tỉnh Đồng Nai chia sẻ: Tình hình dịch bệnh trên heo, gà, trâu bò vẫn diễn biến phức tạp. Việc tổ chức chôn lấp động vật bị dịch bệnh tại chỗ nơi trang trại xảy ra ổ dịch bệnh có rủi ro ô nhiễm nguồn nước ngầm, nguồn dịch bệnh tồn tại lâu. Các địa phương nên có giải pháp xử lý heo, gà bệnh phù hợp hơn, nhất là những trang trại chăn nuôi quy mô lớn để hạn chế dịch bệnh lây lan. Tình hình dịch tả heo châu Phi vẫn diễn biến phức tạp, nhất là với các trang trại nhỏ lẻ do hiệu quả vaccine dịch tả heo châu Phi chưa cao. Tỉnh Đồng Nai thực hiện tốt công tác kiểm soát, giám sát dịch bệnh. Tuy nhiên, tỉnh cần quan tâm, kiểm soát chặt chẽ hơn về hoạt động giết mổ, nhất là xử lý tình hình giết mổ lậu hiệu quả sẽ góp phần rất lớn trong kiểm soát dịch bệnh.

Nguồn: Báo Đồng Nai

03 THG04

Lâm Đồng tăng cường phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Ph

Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Trọng Yên vừa có văn bản chỉ đạo các sở, ban, ngành liên quan và các địa phương trong tỉnh tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) trên địa bàn tỉnh.

Người chăn nuôi chú trọng vệ sinh, phòng, chống dịch bệnh.

Theo đó, để chủ động phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh DTLCP kịp thời, hiệu quả, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành liên quan và Chủ tịch UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý tuyệt đối không chủ quan, lơ là trong công tác phòng, chống dịch bệnh trên động vật, đặc biệt là bệnh DTLCP.

Cụ thể, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra công tác phòng, chống dịch bệnh DTLCP. Song song đó, phối hợp với UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý chủ động giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, phát hiện sớm, cảnh báo và chỉ đạo xử lý triệt để ổ dịch, không để dịch bệnh lây lan trên diện rộng…

Các sở, ngành liên quan chỉ đạo tăng cường kiểm soát lưu thông. Qua đó, phát hiện, kịp thời ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp buôn bán, vận chuyển lợn và các sản phẩm từ lợn mắc bệnh, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, chưa qua kiểm dịch trên thị trường ra, vào địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, chủ động, tích cực chia sẻ thông tin, dữ liệu với cơ quan thú y các cấp; phối hợp tổ chức chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo quy định của pháp luật.

Song song đó, việc tuyên truyền về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh DTLCP; thông tin kịp thời, chính xác về diễn biến dịch bệnh để người dân không hoang mang, chủ động áp dụng các biện pháp phòng bệnh theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn; kịp thời phản bác các thông tin sai lệch, gây hoang mang, lo lắng trong Nhân dân… cần được đẩy mạnh.

UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý cần tập trung huy động các nguồn lực trên địa bàn tổ chức triển khai, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phòng, chống bệnh DTLCP; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp mua bán, vận chuyển, giết mổ lợn bệnh, vứt xác lợn chết làm lây lan dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng cho người dân và cộng đồng.

Nguồn: Báo Lâm Đồng