Hiệu quả của chất chiết cây hoàn ngọc đến hệ miễn dịch cá tra

25 THG09

 

 

Nuôi cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Chất chiết lá hoàn ngọc kích thích miễn dịch không đặc hiệu của cá tra.

Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là loài cá nuôi phổ biến và có thế mạnh xuất khẩu ở Đồng bằng sông Cửu Long. Trong những năm gần đây, mật độ nuôi tăng cao nhằm thâm canh hóa và gia tăng lợi nhuận theo mục tiêu của người nuôi. Thực tế cho thấy, nuôi thâm canh cá tra ảnh hưởng rất lớn tới môi trường nuôi theo diễn biến xấu, dẫn đến cá dễ bị nhiễm bệnh và khó kiểm soát. Các bệnh thường gặp và gây ảnh hưởng lớn đối với nghề nuôi cá tra thâm canh ở Việt Nam như gan thận mủ, bệnh xuất huyết phù đầu, trắng gan trắng mang, trắng đuôi. Do đó, giải pháp mới thay thế kháng sinh để phòng trị bệnh cho cá tra hiện rất quan trong và cần thiết.

Cây hoàn ngọc được đánh giá là nguồn dược liệu đa dụng, thường được sử dụng trong điều trị viêm nhiễm và có khả năng kháng khuẩn cao. Kết quả phân tích cho thấy mẫu lá cây hoàn ngọc rất giàu axit amin, khoáng chất và một số hợp chất có hoạt tính sinh học có giá trị như lupeol, lupenone, belutin và acid pomolic. 

Do đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của bổ sung chất chiết lá hoàn ngọc (Pseuderanthemum palatiferum (Wall.) Radlk) vào thức ăn lên tăng trưởng và đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)

 

Thí nghiệm cho cá ăn thức ăn có bổ sung chất chiết cây hoàn ngọc

Thí nghiệm bao gồm 4 nghiệm thức được bố trí trong vòng 6 tuần. 

- Nghiệm thức 1:  đối chứng (không bổ sung chất chiết lá cây hoàn ngọc - gọi là chất chiết) (NT1)

- Nghiệm thức 2: bổ sung 0,02% chất chiết (NT2)

- Nghiệm thức 3: bổ sung 0,1% chất chiết (NT3) 

- Nghiệm thức 4: bổ sung 0,5% chất chiết (NT4)

Cá sau 6 tuần cho ăn thức ăn có bổ sung chất chiết được cảm nhiễm với vi khuẩn E. ictaluri.

 

 

Cây hoàn ngọc.

 

Hiệu quả của chất chiết cây hoàn ngọc với  vi khuẩn E. ictaluri

Tăng trưởng

Sau 6 tuần thí nghiệm, cá ở các nghiệm thức bổ sung chất chiết tăng khối lượng trung bình từ 12,9- 13,4 g. Tốc độ tăng trưởng tương đối (DWG) của cá ở các nghiệm thức dao động từ 0,31-0,32 (g/ngày), tốc độ tăng trưởng tương đối (SGR) dao động từ 0,87-0,92 (%/ngày) cao hơn cá ở nghiệm thức đối chứng (0,28 g/ngày; 0,79%/ngày). Nhìn chung, cá ở nghiệm thức bổ sung 0,5% chất chiết có tăng trưởng, DWG và SGR đạt cao nhất, cụ thể 13,4 g; 0,32 g/ngày; 0,92%/ngày cao hơn so với cá đối chứng (p>0,05).

Chỉ tiêu huyết học

Nghiên cứu này cũng đã thể hiện chất chiết có tác động lên một số chỉ tiêu huyết học của cá tra. Hầu hết mật độ hồng cầu và bạch cầu đều tăng cao ở nghiệm thức bổ sung 0,1% và 0,5% chất chiết. 

Mật độ tổng hồng cầu và tổng bạch cầu tăng cao có ý nghĩa ở các nghiệm thức bổ sung chất chiết lá cây hoàn ngọc. Sau 6 tuần thì hoạt tính lysozyme đạt giá trị cao nhất (90, 7 mg/mL) ở nghiệm thức 0,5%, khác biệt có ý nghĩa thống kê với nghiệm thức đối chứng (57,8 U/mL).

Tương tự tế bào lympho, kết quả thí nghiệm cho thấy chất chiết có khả năng kích thích làm gia tăng tế bào đơn nhân. Sau 3 tuần và 6 tuần thí nghiệm, các nghiệm thức được bổ sung chất chiết có mật độ tế bào đơn nhân tăng cao so với nghiệm thức đối chứng. Sau khi cảm nhiễm, tế bào đơn nhân ở 2 nghiệm thức bổ sung 0,1% và 0,5% hoàn ngọc tăng rất cao, gấp 3 lần so với nghiệm thức đối chứng và gấp 2 lần so với nghiệm thức bổ sung 0,02% chất chiết. Các nghiệm thức bổ sung chất chiết đều có mật độ tế bào trung tính tăng cao hơn nghiệm thức đối chứng. Nghiệm thức bổ sung 0,5% hoàn ngọc có giá trị cao nhất 5,49x104 tế bào/mm3 , khác biệt so với các nghiệm thức khác ngoại trừ nghiệm thức 0,1% chất chiết.

Tỉ lệ chết của cá cảm nhiễm sau 2 tuần có sự khác biệt giữa các nghiệm thức. Cá ở nghiệm thức đối chứng âm (ĐC-: tiêm nước muối sinh lí) không chết, không biểu hiện dấu hiệu bệnh lý, hoạt động bình thường. Nghiệm thức đối chứng dương (ĐC+, không bổ sung chất chiết hoàn ngọc, tiêm vi khuẩn) có tỉ lệ chết cao nhất 54,3%. Hai nghiệm thức bổ sung 0,1% và 0,5% chất chiết hoàn ngọc có tỉ lệ chết thấp nhất, lần lượt là 36,3% và 31,7% khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng.

Kết quả từ nghiên cứu cho thấy để giảm thiểu bệnh trên cá tra, người nuôi nên bổ sung 0,1% chất chiết hoàn ngọc vào thức ăn cá tra nhằm kích hoạt đáp ứng miễn dịch, tăng cường khả năng phòng vệ cho cá.

 

Theo Bùi Thị Bích Hằng và Nguyễn Thanh Phương.

Ý kiến bạn đọc

Các tin khác

29 THG10

Prevention of White Feces Syndrome, White Gut Disease and White Muscle Disease in Shrimp

Shrimp culture tends to now be developed intensively with upgraded technology for higher and successful production.In many occasions shrimp culture are affected by various diseases and experienced in loss of crop or reduced the production level by various reasons, writes Mr Prakash Chandra Behera, India.
29 THG10

Disease caused by DIV1 in shrimp

DIV1 (Decapod iridescent virus 1) can cause mass death in shrimp with a high rate of infection. The disease results in quick lethality within just two to three days from the first infection until all shrimp in the pond die. DIV1 can infect small and large shrimp as well as white leg shrimp and giant freshwater prawn.
29 THG10

Urgent appeal to control spread of the shrimp microsporidian parasite Enterocytozoon hepatopenaei (EHP)

Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) is a microsporidian parasite that was first characterized and named from the giant or black tiger shrimp Penaeus monodon from Thailand in 2009 (Tourtip et al. 2009. J. Invertebr. Pathol. 102: 21-29). It was discovered in slow-growing shrimp but was not statistically associated with slow growth at that time. EHP is confined to the shrimp hepatopancreas (HP) and morphologically resembles an unnamed microsporidian previously reported in the HP of Penaeus japonicas from Australia in 2001. Together, these studies suggest that EHP is not an exotic pathogen but that it is endemic to Australasia. Later, it was found that EHP could also infect exotic Penaeus vannamei imported for cultivation in Asia and that it could be transmitted directly from shrimp to shrimp by the oral route (Tangprasittipap et al. 2013. BMC Vet Res. 9:139). This differed from the most common microsporidian previously reported from cotton shrimp, where transmission required an intermediate fish host, allowing disruption of transmission by the exclusion of fish from the production system.