Dự báo xuất khẩu thủy sản quý IV/2020 đạt 2,3 tỷ USD

06 THG10

 

 

Dự báo xuất khẩu thủy sản tăng nhanh vào cuối năm.

 

Do tác động của dịch Covid-19, XK thủy sản của Việt Nam trong quý I giảm 10% và tiếp tục giảm 7% trong quý II đạt gần 1,8 tỷ USD. Tuy nhiên, sang quý III, XK thủy sản đã tăng nhẹ 2% so với cùng kỳ năm ngoái đạt gần 2,4 tỷ USD. Sau khi hồi phục tương đương với cùng kỳ năm ngoài trong tháng 7 và tháng 8, kim ngạch XK trong tháng 9 ước đạt 790 triệu USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm ngoái và lũy kế 9 tháng đầu năm XK thủy sản ước đạt giảm 4% đạt gần 6 tỷ USD.

Xu hướng tiêu thụ thủy sản trên thị trường thế giới thay đổi, theo đó những sản phẩm phục vụ cho phân khúc dịch vụ như cá tra và một số sản phẩm có giá vừa phải bị sụt giảm nhu cầu vì yêu cầu giãn cách xã hội và lệnh phong tỏa ở các nước. Trong khi đó, nhu cầu thủy sản trong phân khúc bán lẻ vẫn ổn định hoặc tăng ở một số thị trường lớn như Mỹ, đó đó, XK tôm vẫn tăng mặc dù XK cá tra và các sản phẩm hải sản giảm. Ngoài ra, thiếu hụt nguyên liệu khai thác trong nước và NK cũng khiến cho XK hải sản sụt giảm.

 

Sản phẩm xuất khẩu

Trong số các sản phẩm XK chính, chỉ có tôm có mức tăng trưởng XK khả quan trong 9 tháng đầu năm, nhất là 6 tháng gần đây vì vậy kim ngạch XK tôm chiếm tỷ trọng chi phối, hơn 44% giá trị XK thủy sản của Việt Nam (so với năm 2019 chiếm 38,5%) trong khi cá tra liên tục sụt giảm XK dẫn đến chỉ chiếm 17,6% (giảm so với 23,6% cùng kỳ năm 2019). XK các mặt hàng hải sản đều sụt giảm, tuy nhiên tỷ trọng của hải sản trong tổng XK vẫn tương đương cùng kỳ năm ngoái (hải sản chiếm 38% tổng XK thủy sản).

 

 

Tôm: Ước XK tôm trong tháng 9/2020 đạt 369 triệu USD, tăng 20% và lũy kế tính đến cuối tháng 9/2020 XK tôm tăng  10% đạt 2,7 tỷ USD và giữ được tăng trưởng trong cả 8 tháng (trừ tháng 1 do nghỉ Tết Nguyên đán. Trong đó, XK tôm chân trắng đạt trên 1,9 tỷ USD, tăng 14% và chiếm 71%; XK tôm sú đạt 424 triệu USD, giảm 15% và chiếm 16%. Trong 4 tháng gần đây, XK tôm chân trắng càng có xu hướng tăng mạnh hơn so với những tháng trước, tăng khoảng 14-15% so với cùng kỳ, tập trung tăng mạnh các sản phẩm tôm chân trắng chế biến mã HS16, tăng 22% (tôm chân trắng HS16 chiếm tới 47,5% tổng XK tôm chân trắng).

Từ quý III, các DN tôm tăng tốc XK sang Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc. XK sang các thị trường khác như Anh, Canada vẫn duy trì tăng trưởng khả quan từ đầu năm đến nay. Duy có thị trường EU bị sụt giảm liên tiếp qua 2 quý: giảm 4% trong quý I và tiếp tục giảm sâu gần 10% trong quý II. Tuy nhiên, XK bắt đầu phục hồi 2% từ tháng 7 và tăng mạnh 16% trong tháng 8/2020 cho thấy thuế NK tôm đông lạnh vào EU giảm về 0% (theo hiệp định EVFTA) đã tác động tích cực đến XK sang thị trường này.

Cá tra là mặt hàng có doanh số XK giảm sâu nhất trong cả quý I (giảm 29%) và quý II (giảm 32%), tiếp tục giảm 27% và 29% trong tháng 7 và tháng 8. XK cá tra trong tháng 9 tiếp tục giảm 14% với doanh số đạt 135 triệu USD, đưa kết quả XK lũy kế 9 tháng đầu năm giảm 28% đạt khoảng 1 tỷ USD. Dịch bùng phát trên toàn thế giới, nhu cầu cá tra sụt giảm mạnh tại các thị trường NK chính như Mỹ, EU, Trung Quốc, ASEAN do giãn cách xã hội làm giảm tiêu thụ ở phân khúc HORICA. Trong khi đó, nguồn cung trong nước và lượng tồn kho tăng, càng khiến cho XK cá tra khó khăn. XK sang tất cả các thị trường đều giảm liên tiếp trong 9 tháng qua, trừ thị trường Anh tăng trưởng mạnh 24% và sẽ là thị trường bù đắp cho sự sụt giảm của các thị trường khác trong những tháng cuối năm, cùng với thị trường Mỹ cũng đang có xu hướng hồi phục từ tháng 7 dù chỉ tăng nhẹ 2-4%.

Hải sản: Dịch Covid 19 khiến giao dịch với các thị trường sụt giảm. Ngoài ra đối với các mặt hàng hải sản như cá ngừ, mực, bạch tuộc thì XK thêm khó vì thiếu nguyên liệu do giãn cách xã hội khiến hoạt động đánh bắt thủy sản giảm, sản lượng khai thác ít, việc NK nguyên liệu từ các nước cũng khó vì thiếu và vì lệnh phong tỏa. Tổng XK hải sản 8 tháng đầu năm 2020 đạt gần 2 tỷ USD, giảm 5% so với cùng kỳ năm 2019.

XK cá ngừ 9 tháng năm giảm 13% đạt 475 triệu USD, trong đó giảm 10% trong quý I và giảm sâu hơn (-28%) trong quý II. XK trong tháng 7 và tháng 8 có xu hướng hồi phục so với những tháng trước nhưng so với cùng kỳ chỉ tăng nhẹ 1,8% trong tháng 7 và giảm 2% trong tháng 8, ước XK trong tháng 9 tăng nhẹ 8% đạt 57 triệu USD. DN cá ngừ đang kỳ vọng vào việc thúc đẩy XK sang EU sau khi hiệp định EVFTA có hiệu lực tứ 1/8/2020, với mức thuế ưu đãi về 0% cho 11.500 tấn cá ngừ hộp XK và mức thuế 0% cho cá ngừ đông lạnh. Tuy nhiên, sau 1 tháng thực hiện EVFTA, kết quả XK cá ngừ sang EU không có dấu hiệu khả quan, vẫn giảm 17% so với cùng kỳ năm ngoái.  

XK mực, bạch tuộc 9 tháng đầu năm 2020 giảm 7% đạt 398 triệu USD, trong đó XK mực chiếm 55% và XK bạch tuộc chiếm 45%. Sau khi giảm mạnh 24% trong quý I, XK mực, bạch tuộc trong quý II có chiều hướng khả quan hơn nhưng vẫn giảm gần 10% so với cùng kỳ năm ngoái. XK trong tháng 7 giảm 3% nhưng sang tháng 8 tăng mạnh 22% cho thấy thị trường đang có tín hiệu khả quan, XK trong tháng 9 tiếp tục tăng mạnh 24% đạt 53 triệu USD.

Từ tháng 8, XK mực, bạch tuộc sang EU tăng nhẹ 1,4% có thể là tín hiệu tốt với hy vọng XK sang thị trường này những tháng tới sẽ tăng nữa, khi một số mã hàng đông lạnh và chế biến được giảm thuế về 0% theo hiệp định EVFTA.

 

Thị trường nhập khẩu

9 tháng đầu năm, Việt Nam XK thủy sản sang 154 thị trường. Top 6 thị trường gồm Nhật Bản, Mỹ, Trung Quôc, EU, Hàn Quốc và ASEAN chiếm gần 80% kim ngạch XK. Trong quý I, XK sang Trung Quốc, ASEAN, Hàn Quốc và EU sụt giảm, trong khi XK sang Nhật Bản và Mỹ vẫn tăng nhẹ, do dịch Covid 19 lây lan chủ yếu ở khu vực châu Á. Sang quý II, dịch bùng phát mạnh trên thế giới nhất là Mỹ và châu Âu, trong khi lắng xuống ở các nước châu Á dẫn đến xu hướng XK sang các thị trường đảo chiều. Theo đó, XK thủy sản trong quý II sang Trung Quốc tăng, trong khi giảm tại các nước khác. Sang quý III, XK sang Mỹ tăng mạnh, sang Hàn Quốc hồi phục nhẹ, trong khi XK sang các thị trường khác đều giảm. XK sang EU trong tháng 8 tăng nhẹ 1% sau khi giảm liên tục trong 6 tháng trước, do XK tôm, mực, bạch tuộc sang thị trường này tăng.

 

 

Mỹ: Ước XK thủy sản sang Mỹ tháng 9 đạt 135 triệu USD, tăng 6%, lũy kế 9 tháng đầu năm 2020, XK thủy sản sang Mỹ đạt trên 1,16 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm ngoái. XK sang thị trường này chỉ giảm sâu trong tháng 4 và tháng 5 vào đỉnh dịch Covid lần 2, nhưng sau đó hồi phục mạnh nhờ XK tôm sang thị trường này tăng.

Nhật Bản: XK thủy sản sang Nhật Bản trong tháng 9/2020 ước đạt 100 triệu USD, giảm 18% so với cùng kỳ năm 2019, Ước lũy kế 9 tháng đầu năm, XK thủy sản sang Nhật Bản giảm nhẹ 6% đạt trên 1 tỷ USD. XK trong quý I tăng nhẹ 2% nhưng sang quý II lại giảm gần 6%, tiếp tục giảm 9% và 8% trong 2 tháng đầu quý III.

Trung Quốc đã vượt qua EU trở thành thị trường NK thủy sản lớn thứ 3 của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2020. Sau khi giảm mạnh trong 2 tháng đầu năm do tác động của dịch Covid-19, XK thủy sản sang Trung Quốc bắt đầu ổn định và hồi phục dần từ tháng 3. Riêng trong quý II, Trung Quốc đứng đầu về NK thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, từ tháng 7, XK sang thị trường này giảm mạnh (giảm 9% và 10% trong tháng 7 và tháng 8) do Trung Quốc hạn chế NK tôm đông lạnh. XK sang Trung Quốc trong tháng 9 ước đạt 190 triệu USD, tăng mạnh 50% so với cùng kỳ năm ngoái, do vậy lũy kế 9 tháng đầu năm, XK thủy sản sang Trung Quốc tăng nhẹ 2% đạt 975 triệu USD.

EU: XK thủy sản sang EU sụt giảm liên tiếp trong 2 quý: giảm 16% trong quý I và tiếp tục giảm 20% trong quý II đạt 218 triệu USD; XK sang thị trường này trong tháng 7, tháng 8 có chiều hướng tốt hơn, nhưng so với cùng kỳ năm 2019 chưa có sự đột phá đáng kể. Ước XK trong tháng 9 sẽ hồi phục mạnh hơn với mức tăng 13% đạt 92 triệu USD, lũy kế 9 tháng đầu năm đạt 692 triệu USD, giảm 11%. Dịch Covid-19, giãn cách xã hội khiến cho XK thủy sản sang 3 thị trường chính giảm sâu: Italy giảm 30%, Đức giảm 14% và Hà Lan giảm 30%.

Tỷ trọng của thị trường này giảm xuống còn 12% vì 2 nguyên nhân cơ bản: Anh rời khỏi EU từ ngày 1/2/2020 và Covid làm giảm nhu cầu và ảnh hưởng đến giao thương thủy sản. Các DN thủy sản Việt Nam đang kỳ vọng vào hiệp định EVFTA có hiệu lực từ 1/8/2020 sẽ đem lại cơ hội đẩy mạnh XK các sản phẩm thủy sản sang EU, nhất là các sản phẩm tôm đông lạnh, cá ngừ đông lạnh, mực, bạch tuộc đông lạnh và chế biến sẽ được giảm thuế về 0% ngay từ 1/8 tới. XK tôm đang có dấu hiệu tốt từ tháng 7, mực bạch tuộc và cá ngừ có thể tăng nhẹ.

Hàn Quốc: Lũy kế đến cuối tháng 9, XK thủy sản sang Hàn Quốc giảm 2% đạt 553 triệu USD, trong đó XK trong tháng 9 ước đạt 64 triệu USD, tăng 5%. XK sang thị trường này giảm nhiều ở các mặt hàng hải sản: cá ngừ giảm 40%, mực, bạch tuộc giảm 6%, XK cá biển khác và cua ghẹ cũng giảm sâu 12% và 39%.

Đối với mặt hàng tôm, Hàn Quốc là thị trường ổn định với mức tăng 7% XK của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm. Hàn Quốc chủ yếu NK tôm chân trắng (chiếm 83%), trong khi tôm sú chiếm 5%. Tuy nhiên, năm nay XK tôm sú sang Hàn Quốc tăng mạnh 25%. 

 

Dự báo

Trong bối cảnh dịch Covid vẫn còn diễn biến phức tạp, bùng phát đợt 3 tại các thị trường và xuất hiện trở lại trong cộng đồng trong nước, XK thủy sản của Việt Nam trong 3 tháng cuối năm chưa thoát được cơn khủng hoảng suy giảm do nhu cầu giảm, do sản xuất bị ảnh hưởng khiến nguyên liệu chế biến giảm.

Tuy nhiên, trong bối cảnh này, thủy sản Việt Nam vẫn có cơ hội ở các thị trường. Đối với thị trường Mỹ, Việt Nam vẫn có thể tiếp tục đẩy mạnh XK tôm, nhất là tôm chân trắng vì sản phẩm này vẫn tiêu thụ tốt tại phân khúc bán lẻ, đồng thời Việt Nam có thể tăng chế biến và XK các sản phẩm có thời hạn bảo quản lâu như cá ngừ và cá biển khác đóng hộp.

Đối với thị trường EU, mặc dù Covid làm giảm nhu cầu và gây khó khăn cho giao thương thủy sản nhưng tôm chân trắng cũng đang có chiều hướng tăng tiêu thụ trên thị trường này. Ngoài ra, các mặt hàng thủy sản như tôm, cá ngừ, mực bạch tuộc và nhuyễn thể được hưởng thuế 0% khi hiệp định EVFTA có hiệu lực từ 1/8/2020 sẽ là đòn bẩy để thúc đẩy XK sang thị trường EU tăng trong những tháng cuối năm nếu các DN có nguồn nguyên liệu tốt và tận dụng hiệu quả ưu đãi thuế quan.

Đối với thị trường Trung Quốc, dự báo nhu cầu sẽ hồi phục trong những tháng cuối năm, khi nguồn cung trong nước của Trung Quốc bị sụt giảm do Covid.

XK sang Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ vẫn duy trì ổn định, không tăng đột phá nhưng sẽ tăng tốt với mặt hàng tôm trong những tháng tới.

Dự báo XK thủy sản của Việt Nam 3 tháng cuối năm sẽ đạt khoảng 2,3 tỷ USD, giảm nhẹ 2% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó tôm tăng 9% đạt 1,1 tỷ USD, cá tra giảm 31% đạt 365 triệu USD, các mặt hàng hải sản đạt khoảng 854 triệu USD, tăng 7,5% với cùng kỳ năm 2019.

Với dự báo trên, XK thủy sản của cả nước năm 2020 sẽ đạt khoảng 8,23 tỷ USD, giảm 4% so với năm 2019, trong đó tôm ước đạt gần 3,7 tỷ USD, cá tra đạt khoảng 1,4 tỷ USD, trong khi XK hải sản đạt hơn 3,1 tỷ USD, giảm 3%.

Ý kiến bạn đọc

Các tin khác

21 THG04

Khẩn: Biến chủng SAT -1 trên gia súc, sức tàn phá khủng khiếp

Trước nguy cơ xâm nhiễm của chủng virus FMD SAT-1 từ biên giới, Thứ trưởng Bộ NN - MT Phùng Đức Tiến yêu cầu kích hoạt hệ thống phòng thủ "từ sớm, từ xa" để bảo vệ sinh kế của người dân và an ninh thực phẩm quốc gia.

17.1t.jpg

Thứ trưởng Bộ NN-MT Phùng Đức Tiến chủ trì cuộc họp khẩn sáng nay để đối phó dịch bệnh. Nguồn nongnghiepmoitruong.vn

"Sát thủ mới” độc lực cực mạnh

Khác với các tuýp virus O, A hay Asia-1 đã quen thuộc tại Việt Nam, chủng SAT-1 (South African Territories 1) được ví như một "sát thủ mới" với độc lực cực mạnh. Đặc tính nguy hiểm nhất của chủng này là gây viêm cơ tim cấp tính và phá hủy hệ hô hấp.

Theo báo cáo của Cục Thú y, tỷ lệ tử vong trên thực địa là con số biết nói. Đối với heo, là động vật dễ bị tổn thương nhất. Nếu bị nhiễm bệnh, heo con có tỷ lệ chết lên đến 50 - 80% chỉ sau thời gian ngắn phát bệnh; heo thịt tỷ lệ chết khoảng 20%.

Còn đối với trâu, bò, dù có sức đề kháng tốt hơn nhưng tỷ lệ chết vẫn dao động từ 10 - 50% tùy tình trạng sức khỏe.

gia_heo_20240530122621(1).webp

Nếu bị lây nhiễm, thì heo là vật nuôi dễ bị thiệt hại lớn nhất từ vi rút SAT - 1. Nguồn: vov.vn

Dấu hiệu nhận biết nhiễm bệnh, ngoài các triệu chứng điển hình như sốt cao, loét miệng, móng và chảy nước bọt, gia súc nhiễm SAT-1 thường có biểu hiện khó thở nặng, bỏ ăn hoàn toàn và có thể chết đột ngột do suy tim trước khi các vết loét kịp lan rộng.

Khoảng trống vaccine và thách thức "chạy đua" với thời gian

Tại cuộc họp sáng 14/4 do Bộ NN-MT tổ chức, đánh giá của cơ quan chuyên môn cho biết, dù dịch bệnh chưa vào nước ta, nhưng một vấn đề nan giải được đặt ra: Việt Nam hiện chưa có kháng thể sẵn có cho chủng SAT-1 trong đàn vật nuôi. Các loại vaccine đa giá hiện hành không có tác dụng bảo hộ đối với biến chủng này.

Thách thức càng lớn khi việc nhập khẩu vaccine đơn giá chủng SAT-1 từ các tập đoàn đa quốc gia có thể mất tới 6 tháng, với mức giá dự kiến khoảng 40.000 VNĐ/liều. Đây là mức giá khá cao đối với hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, đặt ra bài toán về việc nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ giá hoặc dự phòng khẩn cấp, để kịp thời bao phủ miễn dịch cho các vùng trọng điểm.

Phải làm gì ngay lúc này?

Trong bối cảnh vaccine chưa thể có ngay, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh: "Vũ khí mạnh nhất hiện nay là kiểm soát biên giới và an toàn sinh học tại chuồng trại".

Theo đó, Bộ NN - MT đưa ra khuyến cáo khẩn cấp, là kiểm soát tuyệt đối nguồn gốc. Không mua bán, vận chuyển gia súc không rõ nguồn gốc, đặc biệt là tại các tỉnh biên giới phía Bắc và miền Trung.

Virus FMD rất nhạy cảm với môi trường axit và kiềm. Người dân cần tăng cường phun khử khuẩn bằng vôi bột hoặc các dung dịch sát trùng chuyên dụng (như Iodine, NaOH 2%) với tần suất cao hơn tại các cửa ngõ trang trại.

Khi phát hiện gia súc có biểu hiện sốt, lờ mờ, loét móng, chủ hộ phải báo ngay cho cơ quan thú y địa phương. Tuyệt đối không bán chạy hoặc vứt xác gia súc ra môi trường.

Để ứng phó, Bộ đã giao Cục Thú y xây dựng kế hoạch 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Giám sát chủ động tại cửa khẩu, đường mòn và nhập khẩu mẫu mồi xét nghiệm.

Giai đoạn 2: Nhập khẩu dự phòng vaccine và xây dựng bản đồ vùng nguy cơ cao.

Giai đoạn 3: Kích hoạt hệ thống phản ứng nhanh, bao vây ổ dịch ngay từ khi phát hiện ca đầu tiên.

Giai đoạn 4: Nghiên cứu sản xuất vaccine nội địa nhằm làm chủ công nghệ về lâu dài.

Dù virus FMD chủng SAT-1 không lây sang người, nhưng sức tàn phá về kinh tế là vô cùng lớn. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành (Công an, Biên phòng) và ý thức tự bảo vệ của người nông dân là chìa khóa duy nhất để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng mới trong ngành chăn nuôi.

Tấn Nguyễn - Tạp chí điện tử Nông Thôn Việt

13 THG04

Đồng Nai: Phòng dịch tốt để phát triển chăn nuôi bền vững

Sau sáp nhập, tỉnh Đồng Nai tiếp tục giữ vị trí là “thủ phủ” chăn nuôi của cả nước. Năm 2025, tỉnh Đồng Nai cung cấp ra thị trường gần 1,16 triệu tấn thịt các loại, tăng hơn 5,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tuy nhiên, do phát triển mạnh đàn vật nuôi nên các địa phương trên địa bàn tỉnh cũng đối mặt với thách thức lớn trong công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi. Các địa phương càng chú trọng đến công tác phòng, chống dịch, đảm bảo phát triển chăn nuôi bền vững.

Nhiều thách thức trong phòng, chống dịch bệnh

Thời gian qua, tỉnh Đồng Nai phát triển mạnh chăn nuôi công nghiệp với quy mô hàng hóa lớn. Các trang trại chăn nuôi chú trọng áp dụng đồng bộ các giải pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, góp phần phòng, chống dịch, bệnh hiệu quả cho đàn vật nuôi. Đến nay, toàn tỉnh có khoảng 3,94 triệu con heo, chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 90% tổng đàn. Tổng đàn gà khoảng 32,6 triệu con, chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 89% tổng đàn.

Tuy chăn nuôi nhỏ lẻ chỉ chiếm 10% trên tổng đàn với chăn nuôi heo nhưng trên địa bàn vẫn còn khoảng 12,5 ngàn hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và gần 26,5 ngàn hộ chăn nuôi gà. Do chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn thu hút đông nông hộ tham gia, tiềm ẩn rủi ro dịch bệnh cao do thiếu vệ sinh thú ý, vẫn còn tình trạng chăn nuôi trong khu dân cư nên chưa thực hiện tốt các giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học.

chăn nuôi đồng nai

Trang trại chăn nuôi gà công nghiệp tại xã Xuân Đông thực hiện tốt các giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học. Ảnh: Bình Nguyên

Chăn nuôi nông hộ dễ xuất hiện dịch bệnh. Năm 2025, toàn tỉnh có 37 xã với 178 cơ sở chăn nuôi xuất hiện dịch tả heo châu Phi, tiêu hủy hơn 7,4 ngàn con heo, tăng hơn 135,5% so với năm 2024. Ngoài ra, nhiều địa phương cũng xuất hiện các dịch bệnh khác trên vật nuôi như: viêm da nổi cục, cúm gia cầm…

Ông Lê Hồng Phong, Giám đốc Trung tâm Kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương II nhận xét: Trong quý I-2026, tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, nhất là các bệnh cúm gia cầm, dịch tả heo châu Phi với nhiều biến chủng. Dịch bệnh xuất hiện nhiều ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Đồng Nai là “thủ phủ” chăn nuôi với tỷ trọng chăn nuôi lớn nhất nước, tập trung trại giống rất nhiều. Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Tỉnh cần triển khai hiệu quả các giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học, hạn chế dịch bệnh ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi.

Ông Nguyễn Hữu Chiến, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Đông cho biết: Địa phương phát triển mạnh chăn nuôi, trong đó tập trung nhiều trang trại quy mô lớn. Ngày 23-3, trên địa bàn xã có một trại heo thông báo xuất hiện tình hình heo chết. Kết quả trại này có heo nhiễm dịch tả châu Phi. Nguyên nhân do trang trại này nhập heo con bên ngoài về nuôi và nguồn nhiễm bệnh từ heo con mới nhập về. Đến nay, tình trạng dịch bệnh được khống chế. Công tác tiêu trùng, khử độc được thực hiện tốt. Khó khăn của địa phương là tập trung đông các cơ sở chăn nuôi nhưng hiện chỉ có một cán bộ thú y, thiếu về nhân lực, nhất là khi xảy ra dịch bệnh cần lực lượng phản ứng nhanh trong xử lý dịch bệnh.

Ông Nguyễn Trường Giang, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Đồng Nai cho biết: Thời gian qua, công tác triển khai phòng, chống dịch bệnh tại các xã, phường trên địa bàn tỉnh được thực hiện tốt. Công tác phòng, chống dịch yêu cầu phải nhanh, gọn, có thông tin dịch bệnh là phải xử lý ngay. Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh luôn phối hợp tốt với các địa phương trong công tác phòng, chống dịch bệnh. Khi có địa phương xuất hiện ổ dịch và báo lên, trong vòng 24 giờ, đơn vị đều kịp thời xuống ổ dịch phối hợp cùng địa phương xử lý.

Chủ động phòng, chống dịch

Chủ động phòng, chống dịch hiệu quả, ngay từ đầu năm, các địa phương chủ động xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí cho công tác phòng, chống dịch trên gia súc, gia cầm, thủy sản năm 2026.

Tại Hội nghị Phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi năm 2026, đại diện phường Bình Phước cho hay: Đến nay, UBND phường Bình Phước luôn xác định công tác phòng, chống dịch bệnh là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên để bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần phát triển kinh tế địa phương. Đặc biệt, dịch tả heo châu Phi xuất hiện trên địa bàn và vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái phát. Địa phương tập trung triển khai đồng loạt các giải pháp phòng, chống dịch bệnh, không để dịch bệnh lây lan. Công tác giám sát dịch bệnh tại các địa bàn có cơ sở chăn nuôi được chú trọng. Trong năm 2026, UBND phường Bình Phước tiếp tục tập trung thực hiện các kế hoạch tỉnh giao; chú trọng công tác tuyên truyền về phòng, chống dịch bệnh, chăn nuôi an toàn; nâng cao tỷ lệ tiêm phòng, giám sát chăn nuôi nông hộ.

Ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi tỉnh Đồng Nai chia sẻ: Tình hình dịch bệnh trên heo, gà, trâu bò vẫn diễn biến phức tạp. Việc tổ chức chôn lấp động vật bị dịch bệnh tại chỗ nơi trang trại xảy ra ổ dịch bệnh có rủi ro ô nhiễm nguồn nước ngầm, nguồn dịch bệnh tồn tại lâu. Các địa phương nên có giải pháp xử lý heo, gà bệnh phù hợp hơn, nhất là những trang trại chăn nuôi quy mô lớn để hạn chế dịch bệnh lây lan. Tình hình dịch tả heo châu Phi vẫn diễn biến phức tạp, nhất là với các trang trại nhỏ lẻ do hiệu quả vaccine dịch tả heo châu Phi chưa cao. Tỉnh Đồng Nai thực hiện tốt công tác kiểm soát, giám sát dịch bệnh. Tuy nhiên, tỉnh cần quan tâm, kiểm soát chặt chẽ hơn về hoạt động giết mổ, nhất là xử lý tình hình giết mổ lậu hiệu quả sẽ góp phần rất lớn trong kiểm soát dịch bệnh.

Nguồn: Báo Đồng Nai

03 THG04

Lâm Đồng tăng cường phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Ph

Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Trọng Yên vừa có văn bản chỉ đạo các sở, ban, ngành liên quan và các địa phương trong tỉnh tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) trên địa bàn tỉnh.

Người chăn nuôi chú trọng vệ sinh, phòng, chống dịch bệnh.

Theo đó, để chủ động phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh DTLCP kịp thời, hiệu quả, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành liên quan và Chủ tịch UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý tuyệt đối không chủ quan, lơ là trong công tác phòng, chống dịch bệnh trên động vật, đặc biệt là bệnh DTLCP.

Cụ thể, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra công tác phòng, chống dịch bệnh DTLCP. Song song đó, phối hợp với UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý chủ động giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, phát hiện sớm, cảnh báo và chỉ đạo xử lý triệt để ổ dịch, không để dịch bệnh lây lan trên diện rộng…

Các sở, ngành liên quan chỉ đạo tăng cường kiểm soát lưu thông. Qua đó, phát hiện, kịp thời ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp buôn bán, vận chuyển lợn và các sản phẩm từ lợn mắc bệnh, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, chưa qua kiểm dịch trên thị trường ra, vào địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, chủ động, tích cực chia sẻ thông tin, dữ liệu với cơ quan thú y các cấp; phối hợp tổ chức chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo quy định của pháp luật.

Song song đó, việc tuyên truyền về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh DTLCP; thông tin kịp thời, chính xác về diễn biến dịch bệnh để người dân không hoang mang, chủ động áp dụng các biện pháp phòng bệnh theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn; kịp thời phản bác các thông tin sai lệch, gây hoang mang, lo lắng trong Nhân dân… cần được đẩy mạnh.

UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý cần tập trung huy động các nguồn lực trên địa bàn tổ chức triển khai, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phòng, chống bệnh DTLCP; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp mua bán, vận chuyển, giết mổ lợn bệnh, vứt xác lợn chết làm lây lan dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng cho người dân và cộng đồng.

Nguồn: Báo Lâm Đồng