How salinity impacts EHP in whiteleg shrimp

08 THG06

The salinity levels of shrimp ponds have been shown to have a major impact on the prevalence of Enterocytozoon hepatopenaei (EHP), according to new research from the University of Arizona.

Anecdotal evidence suggest that EHP is more prevalent in grow-out ponds of whiteleg shrimp (Litopenaeus vannamei) where the salinity is high - >15 parts per thousand (ppt) - compared to grow-out ponds with low salinities (<5 ppt). Considering that whiteleg shrimp is an euryhaline species, we were interested to find out if EHP infects the species in high (30 ppt), medium (15 ppt) and low (2 ppt) salinities at the same rate.

The most important disease in shrimp farming

Hepatopancreatic microsporidiosis (HPM), which is caused by the microsporidium EHP, is probably the most important disease in shrimp farming at the moment. EHP has been reported in shrimp producing countries in Asia – including China, Indonesia, Malaysia, Vietnam, Thailand and India – as well as in Venezuela. The main clinical signs of EHP are growth retardation, which leads to increased size variability. In advanced stages of the disease, EHP-infected shrimp typically display soft shells, and chronic mortalities. In some cases, the coinfection of EHP and Vibrio spp. has been associated with the development of white faeces syndrome (WFS). Histopathological lesions induced by EHP in the hepatopancreas display irregular/regular basophilic inclusion bodies within the cytoplasm, with or without the presence of spores.

Shrimp with a soft shell - a classic sign of EHP

Shrimp with a soft shell - a classic sign of EHP

© Dr Luis Aranguren

Shrimp farming in different salinities

EHP has been reported in shrimp ponds with a wide range of salinities (below 5 ppt and up to 55 ppt). In countries where EHP has been found, the incidence seems to be higher in ponds with high salinity than low salinity, but there is no study to support a possible relationship between salinity and the levels of EHP infection. The goal of our study was to compare the infectivity of EHP in three different salinities under experimental conditions using faecal strings as inoculum.

Infecting white leg shrimp at three different salinities

Specific pathogen-free (SPF) Litopenaeus vannamei were used for the experimental challenge with EHP. Shrimp were maintained at three different salinities – 2 ppt, 15 ppt, and 30 ppt. For each experimental challenge, 90-L tanks were filled with artificial seawater that corresponded to the three salinity levels with two replicates for each salinity treatment. The temperature was set at 25°C (±0.6). The entire experiment was repeated two times.

Challenge test

Faecal strings from known EHP-infected shrimp were used as inoculum for both experimental challenges. These were collected daily by siphoning an EHP-infected tanks. A small aliquot was preserved in 95 percent ethanol for determining the EHP load, while the rest were used as inoculum to challenge shrimp maintained at different salinities. One hour post-challenge, shrimp were fed daily with a volume of commercial pelleted feed equating to 2 percent of the tank biomass. This inoculation and feeding regimen was designed to allow the animals to first consume the inocula containing the EHP-infectious faecal strings before consuming pelleted diet. The challenges lasted 25 days.

Shrimp showing chromatophore expansion -  a telltale sign of EHP

Shrimp showing chromatophore expansion - a telltale sign of EHP

© Dr Luis Aranguren

Results and implications

In our study, we were able to induce experimental infection using faecal strings as the inoculum. The faecal strings, used as a source of EHP inoculum, were sufficient to elicit an infection in shrimp maintained at the three different salinities. The infectivity of EHP in shrimp reared at 2 ppt, 15 ppt, and 30 ppt salinities was confirmed by PCR and histopathology. Our results show that the prevalence and severity of EHP infection was higher at 30 ppt than at 2 ppt and 15 ppt.

This study demonstrated that faeces could be used as EHP inoculum in experimental challenge and concurrently, infectious faeces could be a source of contamination in hatcheries and grow-out ponds. Taking advantage of the detritivorous behaviour of crustaceans and the presence of undigested feeds, comprising 25-50 percent of the faecal matter, we were able to deliver EHP infectious spores to shrimp and perform experimental challenges. Using faeces collected from confirmed EHP-infected shrimp, our experimental design simulated horizontal transmission of EHP, as observed at a farm level. Histopathology of hepatopancreas tissue dissected from experimentally challenged shrimp reared at three different salinities displayed characteristic lesions of EHP infection that include the presence of plasmodium in the cytoplasm of infected epithelial cells, mature spores within the cytoplasm or released spores in the hepatopancreatic tubule lumen.

Litopenaeus vannamei is an euryhaline species which is raised in a wide range of conditions including high salinities (30 ppt), estuarine environments (10-20 ppt), and low salinities (2 ppt). This study confirms EHP is able to cause an infection at a wide range of salinities, varying as much as 2 ppt to 30 ppt. However, the prevalence of the EHP infection increased at 30 ppt salinity (87.5 percent prevalence), compared to 15 ppt (30.0 percent prevalence) and 2 ppt salinity (33.3 percent prevalence).

The difference in the severity of the EHP infection at the three different salinities was probably due to the differential effect of salinity on spore germination. One of the critical phases in the spore germination is the increase of intra-spore osmotic pressure. The difference in salinities led to a hypotonic environment at 2 ppt and 15 ppt compared to hypertonic environment at 30 ppt. It is possible that the hypertonic solution enhances the germination of the spore by increasing the spore activation process.

Shrimp with white faeces - another classic sign of EHP infection

Shrimp with white faeces - another classic sign of EHP infection

© Dr Luis Aranguren

Practical applications

In grow-out ponds in some EHP endemic areas in Asia, the salinity conditions are found to vary widely. For example, in India there are shrimp farming areas with high and low salinities. Interestingly, the prevalence of EHP seems to be lower at lower salinities (below 5 ppt), as observed during a shrimp disease survey in Andhra Pradesh in 2019 (Aranguren and colleagues, unpublished).

Similar conditions were recorded in two major shrimp farming areas in Venezuela – Maracaibo lake, where the salinity is around 4-6 ppt, and in Falcon state where the salinity varies from 36-40 ppt. In Venezuela, shrimp farming is not fully integrated, and the movement of nauplii and post-larvae between Falcon and Maracaibo lake area is a common practice. Despite the movement of potentially EHP-infected post-larvae and / or broodstock between these two areas, so far EHP has been detected in the Falcon area only where the salinities are high. In Maracaibo lake, where the salinities are low, EHP has not been reported yet. It is possible that the absence of EHP in shrimp farms in Maracaibo lake could be due to the difference in water salinity.

Conclusions

This study demonstrated that faecal strings from known EHP-infected shrimp could be used as a reliable source of inoculum to conduct EHP experimental infections via the faecal-oral route. An EHP infection can occur in water with a salinity as low as 2 ppt, although the prevalence and the severity of infection is higher at a salinity of 30 ppt. These findings have implications in disease management in EHP-endemic areas.

In shrimp farming areas where EHP is a major sanitary issue, farmers can minimise the risk of EHP infection by stocking EHP-free post-larva, carrying out a thorough disinfection process of the grow-out pond prior to stocking PL, and by using liners to isolate the PL from the natural pond bottom. Alternatively, shrimp can be cultured in lower salinity (~15ppt) to minimise the severity of EHP infection.

Other news

21 THG04

Khẩn: Biến chủng SAT -1 trên gia súc, sức tàn phá khủng khiếp

Trước nguy cơ xâm nhiễm của chủng virus FMD SAT-1 từ biên giới, Thứ trưởng Bộ NN - MT Phùng Đức Tiến yêu cầu kích hoạt hệ thống phòng thủ "từ sớm, từ xa" để bảo vệ sinh kế của người dân và an ninh thực phẩm quốc gia.

17.1t.jpg

Thứ trưởng Bộ NN-MT Phùng Đức Tiến chủ trì cuộc họp khẩn sáng nay để đối phó dịch bệnh. Nguồn nongnghiepmoitruong.vn

"Sát thủ mới” độc lực cực mạnh

Khác với các tuýp virus O, A hay Asia-1 đã quen thuộc tại Việt Nam, chủng SAT-1 (South African Territories 1) được ví như một "sát thủ mới" với độc lực cực mạnh. Đặc tính nguy hiểm nhất của chủng này là gây viêm cơ tim cấp tính và phá hủy hệ hô hấp.

Theo báo cáo của Cục Thú y, tỷ lệ tử vong trên thực địa là con số biết nói. Đối với heo, là động vật dễ bị tổn thương nhất. Nếu bị nhiễm bệnh, heo con có tỷ lệ chết lên đến 50 - 80% chỉ sau thời gian ngắn phát bệnh; heo thịt tỷ lệ chết khoảng 20%.

Còn đối với trâu, bò, dù có sức đề kháng tốt hơn nhưng tỷ lệ chết vẫn dao động từ 10 - 50% tùy tình trạng sức khỏe.

gia_heo_20240530122621(1).webp

Nếu bị lây nhiễm, thì heo là vật nuôi dễ bị thiệt hại lớn nhất từ vi rút SAT - 1. Nguồn: vov.vn

Dấu hiệu nhận biết nhiễm bệnh, ngoài các triệu chứng điển hình như sốt cao, loét miệng, móng và chảy nước bọt, gia súc nhiễm SAT-1 thường có biểu hiện khó thở nặng, bỏ ăn hoàn toàn và có thể chết đột ngột do suy tim trước khi các vết loét kịp lan rộng.

Khoảng trống vaccine và thách thức "chạy đua" với thời gian

Tại cuộc họp sáng 14/4 do Bộ NN-MT tổ chức, đánh giá của cơ quan chuyên môn cho biết, dù dịch bệnh chưa vào nước ta, nhưng một vấn đề nan giải được đặt ra: Việt Nam hiện chưa có kháng thể sẵn có cho chủng SAT-1 trong đàn vật nuôi. Các loại vaccine đa giá hiện hành không có tác dụng bảo hộ đối với biến chủng này.

Thách thức càng lớn khi việc nhập khẩu vaccine đơn giá chủng SAT-1 từ các tập đoàn đa quốc gia có thể mất tới 6 tháng, với mức giá dự kiến khoảng 40.000 VNĐ/liều. Đây là mức giá khá cao đối với hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, đặt ra bài toán về việc nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ giá hoặc dự phòng khẩn cấp, để kịp thời bao phủ miễn dịch cho các vùng trọng điểm.

Phải làm gì ngay lúc này?

Trong bối cảnh vaccine chưa thể có ngay, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh: "Vũ khí mạnh nhất hiện nay là kiểm soát biên giới và an toàn sinh học tại chuồng trại".

Theo đó, Bộ NN - MT đưa ra khuyến cáo khẩn cấp, là kiểm soát tuyệt đối nguồn gốc. Không mua bán, vận chuyển gia súc không rõ nguồn gốc, đặc biệt là tại các tỉnh biên giới phía Bắc và miền Trung.

Virus FMD rất nhạy cảm với môi trường axit và kiềm. Người dân cần tăng cường phun khử khuẩn bằng vôi bột hoặc các dung dịch sát trùng chuyên dụng (như Iodine, NaOH 2%) với tần suất cao hơn tại các cửa ngõ trang trại.

Khi phát hiện gia súc có biểu hiện sốt, lờ mờ, loét móng, chủ hộ phải báo ngay cho cơ quan thú y địa phương. Tuyệt đối không bán chạy hoặc vứt xác gia súc ra môi trường.

Để ứng phó, Bộ đã giao Cục Thú y xây dựng kế hoạch 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Giám sát chủ động tại cửa khẩu, đường mòn và nhập khẩu mẫu mồi xét nghiệm.

Giai đoạn 2: Nhập khẩu dự phòng vaccine và xây dựng bản đồ vùng nguy cơ cao.

Giai đoạn 3: Kích hoạt hệ thống phản ứng nhanh, bao vây ổ dịch ngay từ khi phát hiện ca đầu tiên.

Giai đoạn 4: Nghiên cứu sản xuất vaccine nội địa nhằm làm chủ công nghệ về lâu dài.

Dù virus FMD chủng SAT-1 không lây sang người, nhưng sức tàn phá về kinh tế là vô cùng lớn. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành (Công an, Biên phòng) và ý thức tự bảo vệ của người nông dân là chìa khóa duy nhất để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng mới trong ngành chăn nuôi.

Tấn Nguyễn - Tạp chí điện tử Nông Thôn Việt

13 THG04

Đồng Nai: Phòng dịch tốt để phát triển chăn nuôi bền vững

Sau sáp nhập, tỉnh Đồng Nai tiếp tục giữ vị trí là “thủ phủ” chăn nuôi của cả nước. Năm 2025, tỉnh Đồng Nai cung cấp ra thị trường gần 1,16 triệu tấn thịt các loại, tăng hơn 5,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tuy nhiên, do phát triển mạnh đàn vật nuôi nên các địa phương trên địa bàn tỉnh cũng đối mặt với thách thức lớn trong công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi. Các địa phương càng chú trọng đến công tác phòng, chống dịch, đảm bảo phát triển chăn nuôi bền vững.

Nhiều thách thức trong phòng, chống dịch bệnh

Thời gian qua, tỉnh Đồng Nai phát triển mạnh chăn nuôi công nghiệp với quy mô hàng hóa lớn. Các trang trại chăn nuôi chú trọng áp dụng đồng bộ các giải pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, góp phần phòng, chống dịch, bệnh hiệu quả cho đàn vật nuôi. Đến nay, toàn tỉnh có khoảng 3,94 triệu con heo, chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 90% tổng đàn. Tổng đàn gà khoảng 32,6 triệu con, chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 89% tổng đàn.

Tuy chăn nuôi nhỏ lẻ chỉ chiếm 10% trên tổng đàn với chăn nuôi heo nhưng trên địa bàn vẫn còn khoảng 12,5 ngàn hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và gần 26,5 ngàn hộ chăn nuôi gà. Do chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn thu hút đông nông hộ tham gia, tiềm ẩn rủi ro dịch bệnh cao do thiếu vệ sinh thú ý, vẫn còn tình trạng chăn nuôi trong khu dân cư nên chưa thực hiện tốt các giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học.

chăn nuôi đồng nai

Trang trại chăn nuôi gà công nghiệp tại xã Xuân Đông thực hiện tốt các giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học. Ảnh: Bình Nguyên

Chăn nuôi nông hộ dễ xuất hiện dịch bệnh. Năm 2025, toàn tỉnh có 37 xã với 178 cơ sở chăn nuôi xuất hiện dịch tả heo châu Phi, tiêu hủy hơn 7,4 ngàn con heo, tăng hơn 135,5% so với năm 2024. Ngoài ra, nhiều địa phương cũng xuất hiện các dịch bệnh khác trên vật nuôi như: viêm da nổi cục, cúm gia cầm…

Ông Lê Hồng Phong, Giám đốc Trung tâm Kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương II nhận xét: Trong quý I-2026, tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, nhất là các bệnh cúm gia cầm, dịch tả heo châu Phi với nhiều biến chủng. Dịch bệnh xuất hiện nhiều ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Đồng Nai là “thủ phủ” chăn nuôi với tỷ trọng chăn nuôi lớn nhất nước, tập trung trại giống rất nhiều. Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Tỉnh cần triển khai hiệu quả các giải pháp chăn nuôi an toàn sinh học, hạn chế dịch bệnh ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi.

Ông Nguyễn Hữu Chiến, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Đông cho biết: Địa phương phát triển mạnh chăn nuôi, trong đó tập trung nhiều trang trại quy mô lớn. Ngày 23-3, trên địa bàn xã có một trại heo thông báo xuất hiện tình hình heo chết. Kết quả trại này có heo nhiễm dịch tả châu Phi. Nguyên nhân do trang trại này nhập heo con bên ngoài về nuôi và nguồn nhiễm bệnh từ heo con mới nhập về. Đến nay, tình trạng dịch bệnh được khống chế. Công tác tiêu trùng, khử độc được thực hiện tốt. Khó khăn của địa phương là tập trung đông các cơ sở chăn nuôi nhưng hiện chỉ có một cán bộ thú y, thiếu về nhân lực, nhất là khi xảy ra dịch bệnh cần lực lượng phản ứng nhanh trong xử lý dịch bệnh.

Ông Nguyễn Trường Giang, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Đồng Nai cho biết: Thời gian qua, công tác triển khai phòng, chống dịch bệnh tại các xã, phường trên địa bàn tỉnh được thực hiện tốt. Công tác phòng, chống dịch yêu cầu phải nhanh, gọn, có thông tin dịch bệnh là phải xử lý ngay. Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh luôn phối hợp tốt với các địa phương trong công tác phòng, chống dịch bệnh. Khi có địa phương xuất hiện ổ dịch và báo lên, trong vòng 24 giờ, đơn vị đều kịp thời xuống ổ dịch phối hợp cùng địa phương xử lý.

Chủ động phòng, chống dịch

Chủ động phòng, chống dịch hiệu quả, ngay từ đầu năm, các địa phương chủ động xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí cho công tác phòng, chống dịch trên gia súc, gia cầm, thủy sản năm 2026.

Tại Hội nghị Phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi năm 2026, đại diện phường Bình Phước cho hay: Đến nay, UBND phường Bình Phước luôn xác định công tác phòng, chống dịch bệnh là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên để bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần phát triển kinh tế địa phương. Đặc biệt, dịch tả heo châu Phi xuất hiện trên địa bàn và vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái phát. Địa phương tập trung triển khai đồng loạt các giải pháp phòng, chống dịch bệnh, không để dịch bệnh lây lan. Công tác giám sát dịch bệnh tại các địa bàn có cơ sở chăn nuôi được chú trọng. Trong năm 2026, UBND phường Bình Phước tiếp tục tập trung thực hiện các kế hoạch tỉnh giao; chú trọng công tác tuyên truyền về phòng, chống dịch bệnh, chăn nuôi an toàn; nâng cao tỷ lệ tiêm phòng, giám sát chăn nuôi nông hộ.

Ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi tỉnh Đồng Nai chia sẻ: Tình hình dịch bệnh trên heo, gà, trâu bò vẫn diễn biến phức tạp. Việc tổ chức chôn lấp động vật bị dịch bệnh tại chỗ nơi trang trại xảy ra ổ dịch bệnh có rủi ro ô nhiễm nguồn nước ngầm, nguồn dịch bệnh tồn tại lâu. Các địa phương nên có giải pháp xử lý heo, gà bệnh phù hợp hơn, nhất là những trang trại chăn nuôi quy mô lớn để hạn chế dịch bệnh lây lan. Tình hình dịch tả heo châu Phi vẫn diễn biến phức tạp, nhất là với các trang trại nhỏ lẻ do hiệu quả vaccine dịch tả heo châu Phi chưa cao. Tỉnh Đồng Nai thực hiện tốt công tác kiểm soát, giám sát dịch bệnh. Tuy nhiên, tỉnh cần quan tâm, kiểm soát chặt chẽ hơn về hoạt động giết mổ, nhất là xử lý tình hình giết mổ lậu hiệu quả sẽ góp phần rất lớn trong kiểm soát dịch bệnh.

Nguồn: Báo Đồng Nai

03 THG04

Lâm Đồng tăng cường phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Ph

Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lê Trọng Yên vừa có văn bản chỉ đạo các sở, ban, ngành liên quan và các địa phương trong tỉnh tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) trên địa bàn tỉnh.

Người chăn nuôi chú trọng vệ sinh, phòng, chống dịch bệnh.

Theo đó, để chủ động phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh DTLCP kịp thời, hiệu quả, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành liên quan và Chủ tịch UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý tuyệt đối không chủ quan, lơ là trong công tác phòng, chống dịch bệnh trên động vật, đặc biệt là bệnh DTLCP.

Cụ thể, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra công tác phòng, chống dịch bệnh DTLCP. Song song đó, phối hợp với UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý chủ động giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, phát hiện sớm, cảnh báo và chỉ đạo xử lý triệt để ổ dịch, không để dịch bệnh lây lan trên diện rộng…

Các sở, ngành liên quan chỉ đạo tăng cường kiểm soát lưu thông. Qua đó, phát hiện, kịp thời ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp buôn bán, vận chuyển lợn và các sản phẩm từ lợn mắc bệnh, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, chưa qua kiểm dịch trên thị trường ra, vào địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, chủ động, tích cực chia sẻ thông tin, dữ liệu với cơ quan thú y các cấp; phối hợp tổ chức chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo quy định của pháp luật.

Song song đó, việc tuyên truyền về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh DTLCP; thông tin kịp thời, chính xác về diễn biến dịch bệnh để người dân không hoang mang, chủ động áp dụng các biện pháp phòng bệnh theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn; kịp thời phản bác các thông tin sai lệch, gây hoang mang, lo lắng trong Nhân dân… cần được đẩy mạnh.

UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý cần tập trung huy động các nguồn lực trên địa bàn tổ chức triển khai, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phòng, chống bệnh DTLCP; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp mua bán, vận chuyển, giết mổ lợn bệnh, vứt xác lợn chết làm lây lan dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng cho người dân và cộng đồng.

Nguồn: Báo Lâm Đồng

06 THG03

Chăn nuôi heo khởi sắc đầu năm 2026, ngành chăn nuôi vẫn thận trọng trước nguy cơ dịch bệnh

Sau giai đoạn chịu tác động của dịch bệnh và nhu cầu tiêu dùng biến động, hoạt động chăn nuôi heo trong nước đang dần khởi sắc trở lại. Tuy vậy, nguy cơ bùng phát dịch tả heo châu Phi vẫn được cảnh báo, trong khi chăn nuôi trâu, bò tiếp tục đối mặt nhiều khó khăn.
25 THG02

Giữ đàn vật nuôi an toàn sau Tết: Mô hình nhỏ, an toàn lớn

Sau Tết, nguy cơ dịch bệnh tăng cao. Việc người dân chủ động chăn nuôi an toàn, tiêm phòng đủ, theo dõi sát giúp giữ đàn vật nuôi khỏe mạnh.

07 THG02

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 1/2026

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 1/2026

01 THG12

Xuất khẩu tôm trong tháng 10/2025 đạt cao nhất kể từ đầu năm

Xuất khẩu tôm Việt Nam trong tháng 10/2025 đạt 498 triệu USD, tăng 26% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là một trong những tháng có kim ngạch cao nhất từ đầu năm đến nay, phản ánh nhu cầu vẫn tốt tại các thị trường lớn và DN đẩy nhanh tốc độ giao hàng. Tính từ đầu năm đến hết tháng 10, kim ngạch đạt 3,9 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ 2024.