may han tig

may han mig

may thao vo

day han co2

day han mig

may nen khi truc vit

Chuyên đề kỹ thuật

Tại Sao Kiểm Soát Bệnh Đốm Trắng Trên Tôm Nuôi Là Điều Hết Sức Khó Khăn?

Khi bệnh đốm trắng (WSSV) bùng phát trong ao, tôm gần như chết sạch trong một vài ngày thì bất kỳ người nuôi tôm nào cũng nhận biết được. Mặc dù tôm vẫn có biểu hiện khỏe, tiếp tục ăn, nhưng trong vòng 3 ngày toàn bộ tôm sẽ chết trong ao có bệnh. Ở một vài ao, sau khi dịch bùng phát tôm có thể không chết toàn bộ nhưng điều đáng lo ngại là tôm vẫn tiếp tục chết với số lượng lớn với tất cả các kích cỡ khác nhau. Người nuôi sẽ phải làm gì đầu tiên là vài thông tin cơ bản.

Chúng ta nên nhớ rằng việc nuôi trồng ở tất cả các nông trại phổ biến nhất là các hoạt động nông nghiệp thì “khác với tự nhiên”. Trong môi trường tự nhiên tôm không sinh trưởng phát triển trong ao với mật độ cao và cũng không ăn thức ăn viên. Chúng sống trong một không gian rộng và có mật độ thấp. Điều đáng quan tâm là bệnh đốm trắng sẽ giảm khi tôm được nuôi ở mật độ thấp dù không sử dụng các biện pháp an toàn sinh học. Điều kiện nuôi với mật độ thâm canh cao dẫn đến virus sẽ phát triễn ở mật độ rất cao trong môi trường nước, tôm sẽ yếu dần và những con khỏe sẽ ăn những con yếu hơn.

Bệnh đốm trắng bùng phát bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Hàng chục đến hàng trăm nguyên nhân bao gồm cả giáp xác mang virus đốm trắng nhưng không gây bệnh trên các loài này. Chúng sẽ mang virus vào môi trường nuôi và gây bệnh trên tôm phổ biến là các loài cua hay các giống tôm khác. Cua hay các loài tôm khác khi mang mầm bệnh sẽ yếu và bị tôm nuôi ăn thịt dẫn đến gây bệnh cho chúng. 

Virus là các plasmid di truyền. Điều này có nghĩa là sự bùng phát của dịch bệnh có thể do nhiều virus có nguồn gốc khác nhau khác nhau tương ứng với khả năng lây nhiễm và tạo ra dịch bệnh. Sự lựa chọn để tồn tại của virus đó là chống lại các loại virus tiêu diệt ký chủ một cách nhanh chóng. Đây là nguyên lý đã được nhận thấy và quan sát trên nhiều mầm bệnh khác nhau. Khi một mầm bệnh có độc lực quá cao chúng sẽ có xu hướng tiêu diệt chính bản thân của nó. Chiến lược để tồn tại tốt nhất là tồn tại bên trong nhưng không giết ký chủ.

Để vận hành một trang trại nuôi tôm không phải là một điều dễ thực hiện. Tôm thường rất nhạy cảm với nhiều mầm bệnh khác nhau, đặc biệt là khi nuôi tôm thâm canh với mật độ cao. Trong khi tôm có thể chết hàng loạt khi bị đốm trắng thì sự kết hợp các mầm bệnh khác nhau như vi khuẩn, nấm, protozoa và các loài virus khác cũng có đủ độc tố để gây chết trên tôm.

199487.jpg
Tôm bệnh đốm trắng với các đốm trắng xuất hiện nhiều trên vỏ đầu ngực và đốt cuối cùng

Với những tác động như vậy chiến lược cơ bản để phát triển nghề nuôi tôm bao gồm các phương pháp tiêu chuẩn về an toàn sinh học trên từng ao nuôi cụ thể là kiểm nghiệm và làm giảm tác động của virus đối với tôm nuôi. Các phương pháp có thể được bao gồm:

1. Phương pháp xử lý nước. Việc đầu tiên để sử dụng nước cho ao nuôi là nguồn nước phải được xử lý bởi các chất hóa học thường là các chất khử trùng nhằm tiêu diệt virus có trong nguồn nước cũng như các yếu tố nguy cơ khác.

2. Hàng rào ngăn cua. Sự lây nhiễm thông qua các vật mang mầm bệnh như cua nên được ngăn chặn bởi các hàng rào nhằm tránh cua hay các loài giáp xác bò qua lại giữa các ao nuôi.

3. Lựa chọn nguồn giống sạch bệnh. Nguồn giống phải không mang virus khi thả vào ao nuôi và cũng không phải là nguồn chứa virus.

4. Các hàng rào vật lý tiêu chuẩn cần thực hiện. Bao gồm việc tiệt trùng các vật dụng trước khi đưa vào khu vực nuôi. Hạn chế di chuyển các dụng cụ như lưới, thuyền,... nếu chưa được khử trùng.

5. Lưới ngăn chim. Chim có thể mang các vật nhiễm bệnh giữa các ao như ăn tôm chết vào bụng và nhả ra khi chuyển qua ao khác.

Đây chỉ là một vài nguyên nhân nhưng cũng là các yếu tố chính lây lan dịch bệnh. Câu hỏi đặt ra là tại sao các điều này vẫn không được thực hiện? Tại sao tôm vẫn nhiễm bệnh? Ở đây có 3 nguyên nhân cơ bản cho điều này:

1. Đầu tiên là việc sử dụng các chất khử trùng nước một cách đơn giản và không phù hợp. Chlorine, chất sử dụng phổ biến trong khử trùng nước. Chất này được đánh giá không hiệu quả bởi chlorine phản ứng rất dễ dàng với hợp chất hữu cơ, khi có sự kết hợp này hoạt lực của chlorine sẽ giảm xuống. Đây là một vấn đề khó giải quyết khi sử dụng chlorine. Khi sử dụng trong các ao không lót bạt có thể đạt hiệu quả tiêu diệt virus trong nguồn nước tuy nhiên nguồn virus ở đáy ao vẫn là một mồi nguy lớn. Sử dụng trong các ao có lót bạt sẽ có hiệu quả cao hơn nhưng thực tế co thấy rằng bạt trong các ao lót bị hư hại và nước từ bên dưới bạt vẫn có thể tràn lên ao nuôi hoặc làm giảm sự dự trữ nguồn nước trong khoảng thời gian dài nhằm ngăn chặn các yếu tố nguy cơ. Ở đây còn nhiều hoạt chất khác được sử dụng rộng rãi để diệt các yếu tố nguy cơ một cách hiệu quả. Những hoạt chất này có thể làm giảm các yếu tố nguy cơ nhưng sẽ không tiêu diệt toàn bộ các bào tử của những mối nguy cơ này khi chúng hiện diện trong bùn đáy ao thậm chí trong môi trường nước. Các bằng chứng thông qua nghiên cứu đã cho thấy rằng nguồn nước sau khi được khử trùng đem đi chạy PCR thì không có sự hiện diện của virus tuy nhiên sau vài ngày hay vài tuần chúng được ghi nhận rất nhiều khi chạy lại PCR. Điều này cũng có thể được lý giải là do nguyên nhân khác nhưng không phải là không xảy ra.

2. Nguồn giống sạch bệnh có thật sự không chứa mầm bệnh. Ở đây cần kiểm tra một cách nghiêm ngặt đối với tôm giống bao gồm cách ly với tôm đang trong khi vực nuôi và qui trình sản xuất tôm giống từ tôm bố mẹ. Đã có bằng chứng cho thấy rằng virus đốm trằng có khả năng tồn tại tiềm tàng bên trong tôm và tôm mang virus không được phát hiện bởi PCR tuy nhiên một thời gian sau thì dương tính với virus đốm trắng. Ngay cả khi tôm giống được đẻ ở bên trong hệ thống sản xuất giống chúng đã có thể tiếp xúc với các mối nguy hiểm tiềm ẩn có chứa virus. Khi kiểm tra tôm giống với số lượng nhỏ và mức độ nhiễm thấp rất khó để phát hiện khi chạy bằng PCR.

3. Những thuyết phục của nhân viên bán hàng hoặc bộ phận kinh doanh khi nói về sản phẩm của họ được bán ngoài thị trường với mục đích ngăn chặn và tiêu diệt sự phát triễn của virus là không thể. Các chất liệu sinh học được sử dụng với mục đích phát triển một cách có ý nghĩa nhằm tạo ra các chương trình an toàn sinh học thật sự.

Các vấn đề này đối với một bài báo để cung cấp đầy đủ tất cả các yếu tố của bệnh đốm trắng và đã có rất nhiều bài nghiên cứu về bệnh gây nên bởi virus đốm trắng đã được công bố. Vậy người nuôi có thể làm gì?

1. Đảm bảo nguồn giống cung cấp phải từ bố mẹ sạch bệnh. Nơi sản xuất giống phải đảm bảo bên trong khép kín và khu vực sản xuất giống không ở trong vùng nuôi. Chương trình an toàn sinh học phải phù hợp với từng trại giống, nên tiêu hủy các tôm bố mẹ bệnh và cho đàn giống có tỉ lệ sống thấp.

2. Thay đổi và cải tiến phương pháp khử trùng. Cần nhận ra rằng khử trùng có thể đặc biệt phù hợp riêng đối với từng hệ thống sản xuất của từng người nuôi và chương trình khử trùng phải phù hợp với thực tế trại nuôi không nhất thiết phải theo đúng chương trình chuẩn. Điều này có thể bao gồm loại bỏ lớp đất trên bề mặc của đáy ao, cho nước vào ao khử trùng với liều lượng cao hơn sau đó xả bỏ và lặp lại chu kỳ nuôi tiếp theo. Điều này giúp khử trùng với liều cao hơn nhưng chi phí thấp hơn. Đối với ao lót bạt sửa chữa những vị trí rò rỉ sau mỗi vụ nuôi.

3. Nhớ hạn chế sự xâm nhập của virus đốm trắng vào ao nuôi. Virus có thể biến đổi để giảm độc lực điều này giải thích nguyên nhân tỉ lệ tôm chết gây nên bởi virus giảm dần sau mỗi vụ nuôi.

4. Đừng tìm kiếm các loại thuốc thần kỳ. Trong khi đó, tôi đồng ý rằng có thể có vài công cụ thích hợp như phối hợp các biện pháp an toàn sinh học để làm giảm lượng virus trong môi trường nuôi. Cũng có vài tài liệu chứng minh rằng có thể làm giảm lượng virus trong môi trường nuôi. Các nghiên cứu đã cho thấy có hiệu quả tuy nhiên chúng hiếm khi có kết quả tương tự cho áp dụng thực tế. Thực tế không phải tôm nuôi được bố trí trong các bể trong nhà được giữ ở nhiệt độ không thay đổi và trong môi trường không có stress. Các kết quả từ những thí nghiệm thực tế hiếm khi đề cặp về toàn bộ vấn đề này.

5. Nuôi kết hợp với cá thì cá sẽ ăn tôm chết làm giảm việc tôm khỏe ăn thịt tôm chết.

6. Mật độ tôm phải phù hợp với điều kiện nuôi của bạn nhằm kiểm soát các đường dây lây truyền của virus đốm trắng. Bạn có thể giảm mật độ nuôi nhưng đạt tỉ lệ sống cao và kích cỡ lớn tránh sự bùng phát lặp lại của virus.

www.aquanetviet.org
Bởi: Stephen G. Newman Ph.D. President and CEO, AquaTech Inc. 
Source: The Practical Asian Aquaculture. Vol.1, Issue1, Oct-Dec 2013

Quay lại


Ý kiến của bạn

Nhập đoạn mã bên cạnh

Hỗ trợ trực tuyến

  • Bộ Phận Tôm BỘ PHẬN TÔM
  • Bộ phận kỹ thuật và kinh doanh
  • Mr. Đông - 0932.814.833
    E: n.thedong29@gmail.com
  • Bộ phận Marketing và xét nghiệm
  • Bộ Phận Cá BỘ PHẬN CÁ
  • Bộ phận kỹ thuật và kinh doanh
  • Mr. Tài - 0939.705.649
    E: thtai081289@gmail.com
  • Bộ phận Marketing và xét nghiệm
  • Mr. Tuân - 0901.077.688
    E: tranhoangtuan77@gmail.com

ĐĂNG KÝ NHẬN BẢN TIN

Email:

THƯ VIỆN HÌNH ẢNH

ĐỐI TÁC