may han tig

may han mig

may thao vo

day han co2

day han mig

may nen khi truc vit

TÀI LIỆU KỸ THUẬT

Sự phát triển của tảo trong ao nuôi thủy sản

Tảo là loài thực vật nhỏ có khả năng quang hợp, sống lơ lửng trong nước và một số có khả năng chuyển động. Những nhóm chính của tảo sinh sống trong hồ gồm: tảo lục (Green algae chlorophyta), tảo mắt (Euglenophyta), tảo vàng ánh (Chrysophyta), tảo giáp (Pyrrhophyta), tảo lam (Blue-green algae, Cyanobacteria).

 

Tảo sử dụng sắc tố quang hợp Chlorophyll và một số chất màu quang hợp khác để hấp thụ ánh sáng để biến đổi thành năng lượng hóa học dự trữ trong adenosine triphosphat (ATP) và một số chất khử khác. Năng lượng  hóa học thu được sẽ được dùng để khử CO2 thành dạng C hữu cơ (đường đơn) từ nguồn C vô cơ (CO2) là một quá trình phản ứng quang hóa (quang hợp) phức tạp và có thể viết tóm tắt:

 

6 CO2 + 6 H2O + ánh sáng --> C6H12O6 + 6 O2  (1).

 

Để phản ứng quang hợp xảy ra được trong cơ thể thực vật cần có các nguyên liệu: CO2, nước, ánh sáng và một số các loại dinh dưỡng cũng như nguyên tố vi lượng. Quang  hợp là phản ứng khử. Năng lượng cho phản ứng khử được lấy từ năng lượng của ánh sáng và một phần năng lượng của ánh sáng  được chuyển hóa thành năng lượng hóa học tích trữ trong hydrat carbon. Trong quá trình quang hợp khí Oxy được tạo ra.

 

Đối với các nhà nuôi trồng thủy sản thì quá trình quang hợp của tảo mang 3 ý nghĩa:

 

Tạo ra nguồn năng lượng sơ cấp cho nuôi trồng thủy sản.

 

Tạo ra nguồn chất hữu cơ làm thức ăn cho loài nuôi.

 

Cung cấp lượng Oxy dồi dào cho động vật hô hấp.

 

Đường đơn hình thành từ quá trình quang hợp được tiếp tục sử dụng để tổng hợp các chất hữu cơ cần thiết khác đối với thực vật nhằm thực hiện các chức năng trao đổi chất và xây dựng các tế bào. Ngoài ra thực vật còn phải thực hiện các chức năng: duy trì sự tồn tại, phát triển và sinh sản, năng lượng để duy trì các quá trình trên được lấy từ chất hữu cơ sinh ra từ quá trình quang hợp. Vì vậy chất hữu cơ chính là nguồn vật chất để xây dụng cơ thể thực vật và đồng thời là nguồn năng lượng. Quá trình thực vật sử dụng năng lượng từ chất hữu cơ để thực hiện các chức năng sinh hóa gọi là quá trình hô hấp. Về phương diện sinh thái thì hô hấp và quang hợp là 2 quá trình ngược chiều nhau.

 

C6H12O6 + 6 O2  --> 6 CO2 + năng lượng nhiệt   (2).

 

Hô hấp là phản ứng OXH, Oxy bị tiêu thụ và nhiệt được sinh ra.

 

Sinh trưởng và phát triển của các loài tảo phụ thuộc vào các yếu tố:

 

Định cư tập đoàn tảo trong ao nuôi.

 

Năng lượng ánh sáng cần thiết cho quá trình quang hợp.

 

Sự đáp ứng nhu cầu các loại chất vô cơ.

 

Nhiệt độ của môi trường.

 

Sự định cư:

 

Sự định cư tập đoàn tảo xảy ra một cách thụ động, ví dụ lan từ nguồn nước này sang nguồn nước khác do nước chảy, do gió hoặc từ nguồn bùn của các ao hồ khác. Tảo từ các nguồn bùn có vai trò lớn vì ngay cả khi bùn bị phơi khô lâu ngày tảo bám trên đó vẫn không chết và sống lại khi gặp điều kiện thuận lợi. Tảo cũng có thể lan truyền thong qua động vật: côn trùng, các loài chim nước, vịt, ngan. Tảo lục là loại tảo đơn bào, nhỏ thường xuất hiện sớm nhất trong hồ do gió và không khí mang tới và do tỉ lệ giữa diện tích và thể tích cơ thể cao nên khả năng hấp thu thức ăn và ánh sáng cao hơn loại tảo có kích thước lớn, vì vậy tốc độ phát triển của các loại tảo bé nhanh. Sau giai đoạn đầu định cư, tỉ lệ các loài tảo phụ thuộc vào sự cạnh tranh nguồn nuôi dưỡng chúng. Rất nhiều loài tảo có khả năng tồn tại dai dẳng trong những điều kiện không thuận lợi cho sự phát triển, chính chúng là nguồn tảo giống đối với các ao hồ sau khi tháo cạn và sử dụng tiếp cho các vụ nuôi trộng về sau.

 

Ánh sáng:

 

Ánh sáng có vai trò quan trọng cho tảo phát triển. Năng lượng ánh sáng cần cho tảo là loại ánh sáng nhìn thấy có bước sóng nằm trong vùng 400 – 700 nm. Cường độ ánh sáng được thể hiện là dòng năng lượng của ánh sáng tới được trên 1m2 diện tích trong thời gian 1 giây, microeinstein trên m2 trên giây. Vì ánh sáng sẽ tắt dần khi xuyên qua lớp nước cho nên càng ở dưới sâu ánh sáng càng ít. Trong giải ánh sáng nhìn thấy có nhiều loại màu sắc. Ánh sáng màu đỏ (bước sóng lớn) bị nước hấp thụ mạnh nên tắt nhanh, ánh sáng màu vàng, lục, lam, bị nước hấp thụ kém hơn cho nên truyền sâu hơn vào nước. Sắc tố màu hấp thụ ánh sáng của tảo chủ yếu là Chlorophyll hấp thụ mạnh ánh sáng đỏ và lục. Vì vậy những loài tảo ở sâu trong nước là loài có sắc tố quang hợp phù hợp với khả năng hấp thụ ánh sáng có khả năng truyền sâu, tức là loại ánh sáng ít bị nước hấp thụ.

 

Cường độ ánh sáng cần thiết để tảo phát triển nằm trong khoảng 5 -20 µE/(m2.s), phụ thuộc vào loài tảo, tình trạng dinh dưỡng, nhiệt độ và các yếu tố khác. Để tảo phát triển cần 1% ánh sáng tự nhiên vào buổi trưa ở các vùng nhiệt đới. độ sâu của lớp nước mà ánh sáng xuyên tới được 1% gọi là điểm cân bằng, tại đó quá trình quang hợp ngang bằng với quá trình hô hấp. Sự phát triển thật sự của tảo là tốc độ sinh ra chất hữu cơ chính là hiệu số của quá trình quang hợp tổng thể và sự tiêu hao do hô hấp, lớp nước trên điểm cân bằng gọi là lớp thấu quang, trong lớpđó có sự phát triển thật sự của tảo.

 

Khi nguồn nước bị đục hay có màu, tảo phát triển chậm và chỉ xảy ra ở vài cm của lớp nước trên bề mặt.

 

Do phải sống ở dưới nước nên bộ máy quang hợp của tảo phải thích hợp với điều kiện thiếu ánh sáng và cũng vì lí do đó chúng sẽ bị ức chế khi ánh sáng quá mạnh. Ví dụ chúng bị ức chế một phần khi cường độ ánh sáng đạt 200 – 800 µE/(m2.s) và hoàn toàn ngừng quang hợp khi cường độ ánh sáng vượt 1400 µE/(m2.s).

 

Sự có mặt của tảo trong ao hồ tự chúng cũng điều hòa về mức độ ánh sáng trong nước. Ví dụ khi mật độ tảo cao sẽ che chắn bớt ánh sáng và hãm lại sự phát triển tiếp theo của tảo, quá trình quang hợp kém đi, ít sinh ra Oxy. Quá trình đó được gọi là tạo ra “bong mát”. Quá trình tạo bóng mát cũng ảnh hưởng đến thành phần loại tảo trong ao hồ. Ví dụ, dưới điều kiện “bóng mát” loại tảo lam phát triển được dưới điều kiện thiếu ánh sáng vì vậy tỉ trọng của chúng tăng lên. Một số loài tảo khi bị thiếu ánh sáng sẽ tìm cách nổi lên trên mặt nước bằng cách làm giảm khối lượng riêng của tế bào để thu được nhiều ánh sáng.

 

Nhu cầu các hợp chất vô cơ:

 

Để phát triển tảo cần tới 12 nguyên tố đa lượng và 8 nguyên tố vi lượng. Tất cả các nguyên tố trên được tảo hấp thu từ môi trường nước (còn gọi là sự đồng hóa). Những chất cần thiết này tồn tại trong nước với nồng độ rất khác nhau, biến động liên tục và tỉ lệ giữa chúng cũng thay đổi và vì vậy tỉ lệ giữa các loài tảo trong ao hồ cũng thay đổi theo thời gian. Giả sử trong một ao hồ nào đó có đầy đủ mọi chất cần thiết trừ một chất nào đó thì khi đưa thêm chất thiếu đó vào tảo sẽ phát triển nhanh, tuy vậy nếu vượt quá nhu cầu thì có thể có tác dụng gây độc. Sự phát triển của tảo chỉ thích hợp trong một khoảng nhất định nào đó, giống như trong trường hợp của cường độ ánh sáng.

 

Trong phần lớn các ao hồ, chất hay bị thiếu nhất là Phospho và sau đó là Nito. Nếu so sánh hàm lượng các nguyên tố có mặt trong nước cũng như trong tế bào của tảo thì cho thấy tỉ lệ hàm lượng phosphor trong tảo so với trong nước biển là 3286 lần, trong nước ngọt là 7667 lần. Tỉ lệ trên đối với Nito so với nước biển là 3600, trong nước ngọt là 6000 lần. Điều ấy chứng tỏ nồng độ của Phospho và Nito trong nước biển cao hơn (gần gấp đôi).

 

Bảng: Tỉ lệ (K) của một số nguyên tố trong tế bào của tảo và trong nước biển, nước ngọt.

 

Nguyên tố

Giá trị K

Nước biển

Nước ngọt

P

3286

7667

N

3600

6000

Fe

2500

125

Mn

2000

133

Cu

667

100

Si

83

125

Zn

1.6

23

C

429

600

K

0.5

95

Ca

0.55

11

S

0.18

32

B

0.02

5

Mg

0.07

22.5

Na

0.14

304

 

Tỉ lệ càng cao tức là nguyên tố đó càng thiếu đối với sự phát triển bình thường của tảo. Những số liệu trên mặc dù có tính đại diện nhưng không phải bất cứ ao hồ nào cũng có đặc trưng đó, chúng được xem là số liệu định hướng vì mỗi loại tảo cũng có những thành phần hóa học khác nhau.

 

Yếu tố nhiệt độ:

 

Tảo là loài thực vật dễ thích nghi với nhiệt độ. Một số loài có thể tồn tại và phát triển ở trong băng tuyết, một số có thể phát triển ở nhiệt độ khoảng 700C. Nhiệt độ tối ưu cho tảo phát triển phụ thuộc vào từng loài cụ thể và phụ thuộc vào điều kiện ánh sáng, tình trạng dinh dưỡng. Đối với phần lớn các loại tảo, trong vùng nhiệt độ 5 – 250C tốc độ tăng trưởng của tảo từ 1.8 đến 3 lần khi nhiệt độ tăng 100C. Với loài tảo lam, nhiệt độ ấm tạo điều kiện phát triển kém, khó cạnh tranh được với các loài tảo khác.

 

Nguồn: Nước Nuôi THủy Sản- Chất Lượng và Giải Pháp Cải Thiên Chất Lượng (NXB KH&KT Hà Nội, 2006)

Quay lại


Ý kiến của bạn

Nhập đoạn mã bên cạnh

Hỗ trợ trực tuyến

  • Bộ Phận Tôm BỘ PHẬN TÔM
  • Bộ phận kỹ thuật và kinh doanh
  • Mr. Đông - 0932.814.833
    E: n.thedong29@gmail.com
  • Bộ phận Marketing và xét nghiệm
  • Bộ Phận Cá BỘ PHẬN CÁ
  • Bộ phận kỹ thuật và kinh doanh
  • Mr. Tài - 0939.705.649
    E: thtai081289@gmail.com
  • Bộ phận Marketing và xét nghiệm
  • Mr. Tuân - 0901.077.688
    E: tranhoangtuan77@gmail.com

ĐĂNG KÝ NHẬN BẢN TIN

Email:

THƯ VIỆN HÌNH ẢNH

ĐỐI TÁC