may han tig

may han mig

may thao vo

day han co2

day han mig

may nen khi truc vit

Chuyên đề kỹ thuật

Nghiên cứu tác động của tinh chất nghệ chiết xuất bằng ethanol lên hoạt động kháng khuẩn vibrio spp. và tác động nâng cao miễn dịch cho tôm thẻ chân trắng

Kháng sinh đang mang lại nguy cơ lớn về an toàn sinh học và an toàn thực phẩm vì vậy mà càng ngày các loại kháng sinh càng bị hạn chế nồng độ và cấm sử dụng. Vì vậy mà thảo dược tự nhiên là câu trả lời đáng tin cậy và dài hạn cho việc ức chế vi sinh vật có hại và nâng cao đề kháng. Giống nghệ Turmeric (Curcuma longa Linn thuộc họ Zingiberaceae) được trồng chủ yếu ở Thái Lan từ lâu đã được dùng như một loại thảo dược quí trị được nhiều bệnh. Đã có rất nhiều nghiên cứu về tác dụng dược liệu của củ nghệ như: hoạt tính chống oxi hóa , ức chế ký sinh trùng , ức chế vi sinh vật , chống nhiễm độc , chống ức chế HIV , ngăn ngừa khối u , chống viêm , … và rất nhiều những khám phá mới về tính chất dược lý của nghệ và vẫn chưa có nghiên cứu nào liên quan đến tác động xấu từ việc sử nghệ như một chất phụ gia thực phẩm. Mục đích của nghiên cứu này là điều tra tác động của bột nghệ chiết xuất bằng cồn ethanol lên hoạt động của vi khuẩn Vibrio spp. Và tác động lên sự tăng trưởng, kích thích miễn dịch lên tôm thẻ chân trắng. 


KẾT QUẢ:


1. Tác động và nồng độ ức chế tối thiểu của bột nghệ

 

Trong thí nghiệm này bột nghệ đã cho thấy hiệu quả kháng khuẩn Vibrio Harvey, V. Cholera, V. parahymolyticus V. alginolytisus, V. vulnificus và V. fluialis. Khả năng ức chế vi khuẩn gây hại của bột nghệ cũng đã được nghiên cứu trước đây trên một số loài vi khuẩn như Bacillus cereus, B. coagulans, B. subtilis, Staphylococus aureus, Echerichia Coli and Pseudomonax aeruginosa . Kết quả này cũng tương tự như báo cáo của Supamattaya và cộng sự năm 2005 về tác dụng ức chế Vibrio spp. của bột nghệ chiết bằng ethanol.

 

Nồng độ ức chế tối thiểu hoạt động của bột nghệ lên Vibrio Harvey, V. Cholera, V. parahymolyticus V. alginolytisus, V. vulnificus và V. fluialis lần lượt là 0.47 g/đĩa, 0.47 g/đĩa, 0.94 g/đĩa, 0.47 g/đĩa, 3.75 g/đĩa và 0.47 g/đĩa. Kết quả này đã bổ sung thông tin về hiệu quả ức chế nhiều loại vi sinh vật của bột nghệ. 


2. Hiệu xuất tăng trưởng của tôm sau khi sử dụng bột nghệ


Bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ 4 khẩu phần thí nghiệm: 0, 3.5, 7.5, 15 g/kg thức ăn.


• Hiệu suất tăng trưởng giữa các nhóm cho ăn có bột nghệ không có khác biệt đáng kể (p>0.05)


• Nhưng có một sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm sử dụng 15g/kg bột nghệ (74±4) so với nhóm đối chứ (48±6)


Kết quả thử nghiệm đã cho thấy rằng bột nghệ trong chế độ ăn không làm tăng tỉ lệ chuyển đổi thức ăn nhưng đạt được trong trọng lượng cơ thể với liều lương 15g/kg thức ăn. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu thực hiện trên tôm càng xanh của Wanprapa năm 2004.


Quản lý nước là yếu tố cơ bản quyết định thành sức khỏe tôm, vì vậy mà môi trường nước luôn được giữ ổn định trong suốt quá trình thử nghiệm. Với thông số kỹ thuật cụ thể như sau: nhiệt độ 26.93±0.27ºC; độ mặn: 10.68±0.33 ppt; pH: 7.07±0.07; DO: 7.03±0.05 ppm NH3: 0.18±0.07 ppm; NO2: 0.05±0.02 ppm. Chất lượng nước được giữ ổn định trong suốt quá trình nuôi.


3. Ảnh hưởng của bột nghệ như một phân tử cảm ứng miễn dịch


Sau 9 tuần, các nhóm tôm thử nghiệm được đo các chỉ tiêu về huyết tương tổng số, hoạt động của enzyme phenoloxidase và khả năng kháng khuẩn. Ghi nhận tỉ lệ sống của tôm sau 9 tuần ăn với bột nghệ nồng độ 15g/kg thức ăn bằng cách ngâm trong 1 giờ với Vibrio harveyi nồng độ 106cfu/ml. Kết quả cho thấy rằng:


• Không có khác biệt đáng kể về nồng độ hemocyte giũa nhóm cho ăn với nghệ và nhóm đối chứng


• Tuy nhiên có sự khác biệt rõ rệt (p<0.05) về hoạt động của enzyme phenoloxidase đối với nhóm cho ăn 15 g/kg so với 7.5g/kg và đối chứng. Hoạt động của enzyme phonoloxidase vô cùng quan trọng đối với khả năng miễn dịch của giáp xác , Vì vậy mà nhóm có hoạt động enzyme phenoloxidase cao nhất là nhóm có chế độ ăn 15g bột nghệ/kg thức ăn sẽ có hệ miễn dịch tốt nhất.


• Huyết tương của tôm được điều trị có khả năng ức chế Vibrio Harvey, V. Cholera, V. parahymolyticus V. alginolytisus, V. vulnificus và V. fluialis. Kết quả cho thấy rằng nhóm cho ăn với chế độ 15g/kg có hoạt tính kháng khuẩn cao nhất.


• Tỉ lệ sống của nhóm có chế độ ăn 15g/kg khi ngâm trong môi trường với Vibrio harveyi nồng độ 106cfu/ml cũng khác biệt đáng kể.


Điều đó có nghĩa rằng, bột nghệ đóng một vai trò quan trọng với khả năng miễn dịch của tôm thẻ chân trắng và cũng có tác dụng tương tự trên tôm sú .
Tinh chất nghệ có thể ức chế được hoạt động của vi khuẩn Vibrio Harvey, V. Cholera, V. parahymolyticus V. alginolytisus, V. vulnificus và V. fluialis với nồng độ ức chế tối thiểu là 0.47, 0.47, 0.94, 0.47, 3.75, 0.47g/ đĩa. Tỉ lê tăng trưởng trung bình và trọng lượng tôm cũng tăng khi tôm thẻ được cho ăn với tỉ lệ 7g/kg và 15g/kg thức ăn. Ngoài ra, bột nghệ còn có tác tác dụng ức chế hoạt động của các dòng ki khuẩn Vibrio spp. và tăng cường hoạt động miễn dịch cho tôm.

 

Nguồn: Ong-ard Lawhavinit, Pronchai Sincharoenpokai và Patcharee Sunthornandh phòng Vi sinh và Miễn dịch, khoa Dược phẩm Thú y, trường Đại học Kasetsart

aquanetviet.org

Quay lại


Ý kiến của bạn

Nhập đoạn mã bên cạnh

Hỗ trợ trực tuyến

  • Bộ Phận Tôm BỘ PHẬN TÔM
  • Bộ phận kỹ thuật và kinh doanh
  • Mr. Đông - 0932.814.833
    E: n.thedong29@gmail.com
  • Bộ phận Marketing và xét nghiệm
  • Bộ Phận Cá BỘ PHẬN CÁ
  • Bộ phận kỹ thuật và kinh doanh
  • Mr. Tài - 0939.705.649
    E: thtai081289@gmail.com
  • Bộ phận Marketing và xét nghiệm
  • Mr. Tuân - 0901.077.688
    E: tranhoangtuan77@gmail.com

ĐĂNG KÝ NHẬN BẢN TIN

Email:

THƯ VIỆN HÌNH ẢNH

ĐỐI TÁC